- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Th - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tr V Th phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2023/HS-ST Ngày 15 - 12 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Quý.
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Lê M Quỳnh
2.Bà Trần Thị Bích Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn La - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở UBND xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo. Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2023/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Tr V Th, sinh ngày 07/12/2004 tại xã Thanh Vân, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn 12, xã Thanh Vân, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tr V Th1 và bà Nguyễn Thị Hằng; vợ, con: Chưa có; tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/6/2023, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Tr V Th1, sinh năm 1975; địa chỉ cư trú: Khu 12, xã Thanh Vân, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 10/6/2023, Tr V Th đang đi chơi ở khu vực quảng trường thành phố Vĩnh Yên thì nhận được điện thoại của đối tượng tên M là bạn mới quen ngoài xã hội (Th không biết họ tên, tuổi cụ thể của M) bảo đến khu vực nhà M ở chợ Đồng Tâm, phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên đem ma túy của M đi giao cho một người đàn ông lạ mặt ở thị trấn Tam Đảo, huyện Tam Đảo, khi nào giao ma túy xong quay về, M sẽ trả tiền công cho Th, ngoài ra không trao đổi gì thêm, Th đồng ý. Sau đó, Th đi xe máy BKS: 88S8 - 5195 đến nhà M thì M đưa cho Th 01 túi nilon chứa 05 viên ma tuý MDMA và 03 túi nilon chứa ma tuý Ketamine, sau khi nhận ma túy, Th điều khiển xe máy đem ma túy lên khu vực Quảng trường thuộc tổ dân phố 1, thị trấn Tam Đảo, huyện Tam Đảo. Khi Th đang đứng chờ khách đến nhận ma túy thì bị tổ công tác Công an tỉnh Vĩnh Phúc làm nhiệm vụ tại khu vực trên phát hiện, bắt quả tang.
Tang vật thu giữ: Thu tại túi quần phía trước bên trái Th đang mặc 01 túi nilon màu trắng, viền màu đỏ, bên trong có 05 viên nén màu vàng, 03 túi nilon màu trắng, bên trong đều chứa các tinh thể màu trắng được niêm phong ký hiệu A1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, 01 xe máy Honda Wave, BKS 88S8- 5195, 01 chiếc ví giả da màu nâu bên trong có số tiền 100.000 VND và 01 căn cước công dân mang tên Tr V Th.
Tại Kết luận giám định số 1863 ngày 15/6/2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận:“1. Mẫu chất tinh thể dạng đá màu trắng trong 03 túi nilon màu trắng có viền màu đỏ của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định có tổng khối lượng 2,6620g (không kể bao bì) là ma túy, loại Ketamine; 2. Mẫu chất 05 viên nén màu vàng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định có tổng khối lượng 1,6214g (không kể bao bì) là ma túy, loại MDMA”. Hoàn lại đối tượng giám định còn lại sau giám định gồm 2,5980 gam chất tinh thể màu trắng; 1,5480 gam mẫu chất của 05 viên nén vàng cùng toàn bộ bao gói.
Quá trình điều tra, Th còn khai nhận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 10/6/2023, khi Th đang ở nhà thì nhận được điện thoại của M bảo Th đi đến khu vực cầu vượt Đồng Tâm thuộc phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên cầm ma túy đi giao cho một người đàn ông lạ mặt ở khu vực vòng xuyến thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc, ngoài ra không trao đổi gì thêm, Th đồng ý rồi đi xe máy BKS: 88S8 - 5195 đến điểm hẹn gặp M được M đưa cho Th 01 viên ma túy kẹo. Sau khi nhận ma túy, Th điều khiển xe máy nêu trên đi đến khu vực vòng xuyến thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc giao cho 01 người đàn ông lạ mặt thì người này đưa cho Th 350.000đ, Th cầm tiền rồi quay lại gặp M được M trả công 100.000đ. Sau đó Th đi giao ma túy cho M và bị bắt quả tang thu giữ số tiền 100.000đ.
Tại Kết luận giám định số 2472 ngày 07/9/2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận đối với chiếc ĐTDĐ Iphone thu giữ của Th: “Khôi phục, trích xuất được dữ liệu trong mẫu gửi giám định. Qua kiểm tra, phân tích dữ liệu thời gian từ ngày 10/6/2023 đến 06 giờ ngày 11/6/2023 thấy: Điện thoại Iphone, số IMEI: 359128070087297: Trích xuất được 15 tin nhắn SMS, 151 cuộc gọi trong lịch sử cuộc gọi; chụp được 22 ảnh màn hình hiển thị tin nhắn từ ứng dụng Zalo, 62 ảnh màn hình hiển thị tin nhắn từ ứng dụng Messenger. Thẻ sim kèm theo: Không phát hiện có dữ liệu theo nội dung yêu cầu giám định”. Kết luận giám định không thể hiện nội dung các cuộc gọi, không phát hiện tin nhắn có nội dung trao đổi về việc vận chuyển ma túy.
Tại bản Cáo trạng số: 72/VKSTĐ ngày 28 tháng 11 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo truy tố bị cáo Tr V Th về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 250 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tr V Th phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Tr V Th từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng cho nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy đối với A1viên nén = 1,5480 gam và A1 tinh thể = 2,5980 gam cùng toàn bộ bao gói.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, vỏ màu vàng, số IMEI: 359128070087297, bên trong lắp 01 thẻ sim thu giữ của Th, quá trình điều tra xác định là tài sản của Th dùng liên lạc vào việc phạm tội cần tịch thu bán phát mại sung quỹ Nhà nước, đối với chiếc thẻ sim cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, BKS 88S8 – 5195 mà Th sử dụng đi giao ma túy, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Tr V Th1, sinh năm 1975, ở xã Thanh Vân, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc (bố đẻ của Th). Tối 10/6/2023, Th mượn xe mô tô của ông Thanh nói là đi có chút việc nên ông Thanh không biết Th sử dụng xe máy vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với ông Thanh và chiếc xe máy nêu trên, cần trả lại tài sản cho ông Thanh.
- Đối với 01 ví giả da màu nâu đã cũ và 01 căn cước công dân mang tên Tr V Th là tài sản, giấy tờ tùy thân của Th không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho Th. Đối với 100.000đ tiền thu trong ví giả da màu nâu Th khai là tiền công M trả khi giao ma túy tại Yên Lạc, do cơ quan điều tra đang điều tra đối với M chưa chứng minh được số tiền 100.000đ. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh và tiếp tục tạm giữ số tiền 100.000đ của Th, nếu có căn cứ xử lý sau.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đảo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Tr V Th thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo truy tố: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ và kết quả tranh tụng thẩm tra chứng cứ tại phiên toà, nên có đủ căn cứ để chứng minh và kết luận:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 10/6/2023, Tr V Th có hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy từ thành phố Vĩnh Yên lên thị trấn Tam Đảo, huyện Tam Đảo giao cho khách để lấy tiền công. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 11/6/2023, tại khu vực Quảng trường thị trấn Tam Đảo thuộc TDP 1, thị trấn Tam Đảo, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, khi Th đang chờ khách đến nhận ma túy thì bị tổ công tác Công an tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện, bắt quả tang, thu giữ của Th 2,6620g ma túy Ketamine (chất ma túy khác ở thể rắn) và 1,6214g ma túy MDMA.
Đối với số ma túy mà Th vận chuyển, theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 19 ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự 2015, được xác định như sau: MDMA = 1,6214g/5g = 32,43%; Ketamine = 2,6620g/20g = 13,31%; tổng tỷ lệ % hai chất ma túy là 45,74% , dưới 100% nên tổng khối lượng chất ma túy MDMA và Ketamine thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 250 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi nêu trên của bị cáo Tr V Th đã phạm vào tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự. Tội phạm và hình phạt được quy định như sau:
“1. Người nào vận chuyển trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: …
i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”;
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Bị cáo chỉ vì hám lợi chút tiền công nên đã nhận lời vận chuyển ma túy cho người khác tiếp tay cho những người buôn bán và sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo là người trưởng thành có đủ nhận thức tác hại của ma túy bởi ma túy là chất gây nghiện, tệ nạn cần loại bỏ ra khỏi xã hội bởi nó ảnh hưởng đến sức khỏe, giống nòi và là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Do đó Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo đưa vụ án ra xét xử lưu động tại địa phương nhằm tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật đến người dân về tác hại của ma túy đồng thời xử phạt nghiêm minh đối với hành vi vi phạm. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời để răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đã đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Về nhân thân bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng hình phạt bị cáo không có.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt và xử lý vật chứng là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng cho nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với A1 viên nén = 1,5480 gam và A1 tinh thể = 2,5980 gam cùng toàn bộ bao gói Cơ quan giám định hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, vỏ màu vàng, số IMEI: 359128070087297, bên trong lắp 01 thẻ sim thu giữ của Th, quá trình điều tra xác định là tài sản của Th dùng liên lạc vào việc phạm tội cần tịch thu bán phát mại sung quỹ Nhà nước, đối với chiếc thẻ sim cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, BKS 88S8 – 5195 mà Th sử dụng đi giao ma túy, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Tr V Th1 (bố đẻ của Th). Tối 10/6/2023, Th mượn xe mô tô của ông Thanh nói là đi có chút việc nên ông Thanh không biết Th sử dụng xe máy vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với ông Thanh và chiếc xe máy nêu trên, cần trả lại tài sản cho ông Thanh.
- Đối với 01 ví giả da màu nâu, đã cũ và 01 căn cước công dân mang tên Tr V Th là tài sản, giấy tờ tùy thân của Th không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho Th. Đối với 100.000đ tiền thu trong ví giả da màu nâu Th khai là tiền công M trả khi giao ma túy tại Yên Lạc, do cơ quan điều tra đang điều tra đối với M chưa chứng minh được số tiền 100.000đ. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh và tiếp tục tạm giữ số tiền 100.000đ của Th, có căn cứ xử lý sau.
Đối với người đàn ông tên M mà Th khai thuê Th đi giao ma túy cho khách, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định có đối tượng tên Đặng Duy M, sinh năm 1993, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú thôn Hưng Thịnh, xã Hợp Thịnh, huyện Tam Dương, địa chỉ cư trú tại tổ dân phố Đông Cường, phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên. Cơ quan điều tra đã nhiều lần xác minh, triệu tập M lên làm việc về các nội dung liên quan nhưng M không có mặt tại nơi cư trú, đi đâu, làm gì gia đình và địa phương không biết. Ngoài lời khai của Th, Cơ quan điều tra chưa có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh Đặng Duy M chính là người đã đưa ma túy cho Th đi giao cho khách. Do vậy, Cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ xử lý đối với M trong vụ án này, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Đối với nội dung Th khai M đưa cho Th 01 viên ma túy kẹo đi giao cho 01 người đàn ông lạ mặt ở vòng xuyến thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc đã được trả công 100.000đ. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa làm việc được với M, chưa làm rõ được người đàn ông đã nhận ma túy của Th, không thu giữ được ma túy nên không xác định được loại, khối lượng ma túy.Ngoài lời khai của Th, không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh nên chưa đủ căn cứ xử lý Th về tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 250 của Bộ luật hình sự.
Về án phí bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Tr V Th phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
2. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 250, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Tr V Th 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo (11/6/2023).
3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy mẫu trả giám định gồm 2,5980 tinh thể màu trắng; 1,5480 gam mẫu chất của 05 viên nén màu vàng cùng toàn bộ bao gói. Tịch thu tiêu hủy 01 sim trong điện thoại di động nhãn hiệu Nokia.
- Trả lại cho Tr V Th 01 ví giả da màu nâu đã qua sử dụng; 01 căn cước công dân mang tên Tr V Th.
Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia của Tr V Th.
- Trả lại ông Tr V Th1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, BKS 88S8-5195.
(Vật chứng trên theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 11 tháng 12 năm 2023 giữa Cơ quan Công an huyện Tam Đảo với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Đảo).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Tr V Th phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong phần liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - TAND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện Tam Đảo; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - Công an huyện Tam Đảo; - Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Chi cục THADS huyện Tam Đảo; - UBND xã Thanh Vân, huyện Tam Dương; - Bị cáo; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Lưu HS; VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hồ Sỹ Toàn Ngô Duy Tùng | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Trần Thị Hồng Quý THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hồng Quý |