- Tranh chấp gì? án hình sự — "Viện kiểm sát nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Cướp giật tài sản”, và tội “Trộm cắp tài sản”, t…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T và bị cáo Nguyễn Văn D, phạm tội “Cướp giật tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỐC OAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2023/HS-ST Ngày 15 tháng 9 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hoa
2. Ông Nguyễn Nho Bản
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Thẩm tra viên chính.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quốc Oai tham gia phiên tòa:
Bà Vi Thị Ngọc Kim – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội đưa ra xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 50/2023/TLHS - ST ngày 17 tháng 7 năm 2023; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Đức T, sinh năm 1985; Nơi cư trú: khu 1, thị trấn T, huyện H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; con ông: Nguyễn Đức H, sinh năm 1960; con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1962, vợ: Phùng Anh T, sinh năm 1991; con: có 02 con, lớn sinh năm 2021 nhỏ sinh năm 2023; Gia đình có hai anh em bị cáo là con thứ hai; Tiền án: Không; Tiền sự: năm 2020 Toà án nhân dân huyện H áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại trung tâm giáo dục lao động xã hội số I, thành phố Hà Nội, tuy nhiên Tùng đã trốn khỏi địa phương, chưa chấp hành quyết định cai nghiện. Nhân thân: Ngày 20/09/2013, UBND huyện H áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại trung tâm giáo dục lao động xã hội số IV, thành phố Hà Nội theo Quyết định số 4320/QĐ-UBND. Ngày 21/9/2015, Nguyễn Đức T đã chấp hành xong việc cai nghiện ma túy tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội số IV Hà Nội. Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 07/02/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Quốc Oai. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Nguyễn Văn D, sinh năm 1986; Nơi cư trú: khu 5, thị trấn T, huyện H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông: Nguyễn Văn A (đã chết); Con bà: Hồ Thị C, sinh năm 1958, bị cáo là con duy nhất; Vợ: Lê Thị L, sinh năm 1987 (đã ly hôn); Con: có 01 con, sinh năm 2009; Tiền sự: không; Tiền án: 03 tiền án: Ngày 12/7/2007, Toà án nhân dân huyện Từ Liêm xử phạt 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 127/2007/HSST; ra ngại ngày 17/02/2008; đã chấp hành án phí; chưa bồi thường trách nhiệm dân sự, chưa xóa án tích. Ngày 07/11/2017, Toà án nhân dân huyện H xử phạt 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 78/2017/HSST; ra trại ngày 27/01/2019; đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm ngày 26/12/2019; chưa được xóa án tích. Ngày 17/02/2020, Toà án nhân dân huyện Quốc Oai xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 theo Bản án số 06/2020/HSST, ra trại ngày 13/9/2022; đã nộp án phí ngày 25/11/2020, chưa được xóa án tích.
Nhân thân: Năm 1999 bị UBND tỉnh Hà Tây ra Quyết định đưa người vào trường giáo dưỡng trong thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 844/QĐ-UB ngày 29/12/1999. Ngày 11/10/2001 Dũng đã chấp hành xong thời hạn giáo dưỡng theo giấy chứng nhận số 325/GCN của Trường Giáo dưỡng số 2, Bộ Công an. Ngày 23/12/2003, Toà án nhân dân huyện H xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 45/2003/HSST và phải nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 20/01/2006 đã xóa án tích. Ngày 14/11/2012, UBND huyện H ra Quyết định đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại trung tâm giáo dục lao động xã hội số III Hà Nội. Ngày 15/11/2016 Nguyễn Văn D đã chấp hành xong việc cai nghiện ma túy tại trung tâm giáo dục lao động xã hội số III Hà Nội. Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 07/02/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1-Công an thành phố Hà Nội, số giam: 1722C2 Buồng 8. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
* Các Bị hại: Hoàng Thị Thu H, sinh năm 1963; nơi cư trú: Toà S2-SV03, chưng cư Skylake Phạm Hùng, phường Mỹ Đình 1, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Nguyễn Thị X, sinh năm 1967; nơi cư trú: đội 4, thôn Yên Nội, xã Đồng Quang, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội; Phan Thị N, sinh năm 1983; nơi cư trú: thôn Miễu, xã Hữu Bằng, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội; Bùi Thị Q, sinh năm 1985; nơi cư trú: số nhà 35, đường Hoà Bình, cụm 2, xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội; Lê Duy Q, sinh năm 1989; nơi cư trú: Số 5, ngõ 68, tổ 11, phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Phạm Thị Lan A, sinh năm 1995; đăng ký hộ khẩu: xóm Quyết Tâm, xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên; nơi cư trú: số 30, ngõ 40, đường Ngọc Trục, phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Các bị hại đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Nguyễn Hồng Phúc, sinh năm 1981; nơi cư trú: thôn 3, xã Yên Sở, huyện H, thành phố Hà Nội; Nguyễn Trọng Đạt, sinh năm 1998; nơi cư trú: cụm 9, xã Tân Lập, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội; Lê Hoàng Anh, sinh năm 1999; nơi cư trú: thôn Táo, xã Tam Thuấn, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội; Nguyễn Phương Mai, sinh năm 1983; nơi cư trú: số 20/298/26 phố Ngọc Lâm, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; Bùi Quang Nam, sinh năm 1975; nơi cư trú: số 18, ngõ 210, đường Láng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội; Đường Ngọc Hân, sinh năm 1974; nơi cư trú: số 63, ngõ Thịnh Hào, phường Hàng Bột, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Tất cả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ ngày 07 tháng 02 năm 2023, Công an huyện Quốc Oai nhận được đơn trình báo của bà Hoàng Thị Thu H, sinh năm 1963, trú tại: Toà S2-SV03, chưng cư Skylake Phạm Hùng, phường Mỹ Đình 1, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội về việc bị cướp giật tài sản tại khu vực bãi gửi xe gần Chùa Thầy thuộc thôn Đa Phúc, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội hồi 13 giờ 15 phút ngày 04 tháng 02 năm 2023. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quốc Oai đã rà soát, triệu tập làm việc đối với Nguyễn Đức T và Nguyễn Văn D dẫn giải, đồng thời khám xét khẩn cấp nơi ở của Tùng và Dũng, tạm giữ:
- Tạm giữ của Nguyễn Đức T: 01 chiếc cờ lê, một đầu số 14, một đầu số 10; 01 chiếc xe máy Honda Wave, màu sơn trắng-đen, số khung: RLHJA3901HY407229, số máy: JA39E-0382383; 01 biển kiểm soát: 29E2-340.00; 01 chiếc xe mô tô Yamaha Mio màu bạc BKS: 29K1-636.23, số khung: RLCM5WP104Y004878, số máy: 5WP1-04878; 01 đôi giày vải thể thao màu nâu; 01 áo phao màu xanh đen; 01 mũ bảo hiểm màu xanh xám nửa đầu kiểu lưỡi trai, phía trước bên trái có chữ Kappa, phía sau bên phải có chữ STYLE
- Tạm giữ của Nguyễn Văn D: 01 BKS xe mô tô 36B2-575.29; 01 túi xách bằng da màu đen in chữ Chemitst KHTAE bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Phạm Thị Lan A; 01 mũ bảo hiểm màu xanh nửa đầu kiểu lưỡi trai, trên mũ có hình đầu thỏ màu trắng; 01 đôi giày giày vải thể thao phía trên màu đen, đế màu trắng; 01 áo phao màu đen, sau lưng có chữ KB-24.
Nguyễn Đức T và Nguyễn Văn D khai nhận, Tùng, Dũng và đối tượng nam giới tên Trung (chưa rõ nhân thân, lai lịch) là các đối tượng không có việc làm ổn định nên cùng nhau bàn bạc, chuẩn bị công cụ, phương tiện là cờ lê, tuốc nơ vít, xe mô tô tháo bỏ biển kiểm soát, gắn biển giả 36B2- 575.29 …đi cướp giật, trộm cắp tài sản của người khác lấy tiền tiêu xài cá nhân; cách thức, thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội: Tùng, Trung, Dũng dùng phương tiện xe mô tô đi đến các khu vực đường ít người qua lại, lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của chủ tài sản, rồi lén lút trộm cắp tài sản mang bán lấy tiền tiêu sài cá nhân; với các vụ cướp giật tài sản, Tùng và Dũng nhằm vào đối tượng là phụ nữ; Tùng điều khiển xe mô tô áp sát đối tượng, Dũng ngồi phía sau giật tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát khỏi hiện trường. Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 10/2022 đến ngày 04/02/2023, Tùng và Trung thực hiện 01 vụ cướp giật tài sản trên địa bàn huyện Đan Phượng; Tùng và Dũng thực hiện 04 vụ cướp giật tài sản, 01 vụ trộm cắp tài sản trên các địa bàn quận Nam Từ Liêm; huyện Thạch Thất, huyện Quốc Oai; bị cáo Tùng một mình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 01 vụ trên địa bàn huyện H, để lấy tiền tiêu sài cá nhân, cụ thể:
1. Vụ thứ nhất: Cướp giật tài sản.
Khoảng 19 giờ ngày 10 tháng 01 năm 2023 bị cáo Tùng đang ở nhà thì đối tượng nam giới tên Trung (không xác định được nhân thân lai lịch) đến nhà Tùng chơi. Do không có tiền tiêu xài nên Trung rủ Tùng đi cướp giật tài sản là túi xách của phụ nữ đi đường thì Tùng đồng ý. Sau khi bàn bạc thống nhất xong, Trung điều khiển xe mô tô Honda Wave màu đen không gắn BKS của Trung, chở Tùng ngồi phía sau. Khi đi đến khu vực ngõ Vàng Thượng thuộc cụm 4, xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, Trung và Tùng thấy chị Bùi Thị Q, sinh năm 1985; hộ khẩu thường trú: cụm 2, xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội đang đi bộ cùng với bạn là chị Bùi Thị Hải Yến, sinh năm 1985; hộ khẩu thường trú: cụm 6, xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng và chị Nguyễn Thị Huệ, sinh năm 1985; hộ khẩu thường trú: phố Phùng Hưng, thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng, Trung điều khiển xe Honda Wave đi ngược chiều, áp sát bên trái chị Q, Tùng có hành vi dùng tay trái cầm vào quai túi xách màu đen mà chị Q đang cầm trên tay giật mạnh về phía trước khiến phần dây đeo túi xách bị đứt, chị Q bị ngã xuống đường nhưng không bị thương tích gì. Sau khi cướp giật được túi xách màu đen của chị Q, Trung và Tùng nhanh chóng tẩu thoát khỏi hiện trường. Trung và Tùng đi đến khu vực nghĩa trang thôn Phan Long, xã Tân Hội, huyện Đan Phượng, dừng xe kiểm tra và lấy các tài sản bên trong túi xách màu đen vừa cướp giật được của chị Q gồm: 01 chiếc điện thoại Iphone 11 màu đen; 01 chiếc điện thoại OPPO A83 màu đen; số tiền 200.000 đồng, còn túi xách màu đen, 01 ví màu vàng và một số giấy tờ khác bên trong túi, Tùng vứt bỏ xuống khu đất ruộng gần nghĩa trang. Sau đó Trung và Tùng mang 02 chiếc điện thoại cướp giật được của chị Q bán cho anh Nguyễn Trọng Đạt, sinh năm 1998; hộ khẩu thường trú: Cụm 9, thôn Tân Lập, xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng, là chủ cửa hàng điện thoại Zin Mobile ở số 27, đường 422 xã Tân Lập, huyện Đan Phương, tại đây Trung là người trực tiếp đứng ra bán 02 chiếc điện thoại cho anh Đạt được số tiền 1.600.000 đồng, còn Tùng đứng ở bên ngoài cửa hàng. Tùng và Trung chia nhau mỗi người được 900.000 đồng, Tùng đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi mua được 02 chiếc điện thoại trên, anh Đạt đã bán lại cho anh Lê Hoàng Anh, sinh năm 1999; hộ khẩu thường trú: thôn Táo, xã Tam Thuấn, huyện Phúc Thọ, làm nghề mua bán, sửa chữa điện thoại với giá 2.700.000 đồng; Hoàng Anh tiếp tục bán 02 chiếc điện thoại trên cho người khách lạ mặt nên Cơ quan điều tra không thu hồi được tài sản.
Ngày 12 tháng 01 năm 2023 anh Nguyễn Như Cường, sinh năm 1979; hộ khẩu thường trú: cụm 6, xã Tân Hội, huyện Đan Phượng, phát hiện tại ruộng rau muống của gia đình ở khu vực cổng nghĩa trang thôn Phan Long, xã Tân Hội, huyện Đan Phượng có 01 thẻ căn cước công dân số 001185037711; 01 giấy phép lái xe số AA467704; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô Honda Aibade BKS 29X3-158.41; 01 thẻ bảo hiểm y tế; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS;
thẻ
ngân
hàng
số 9704079941666624 đều mang tên Bùi Thị Q; 01 bảo hiểm y tế tên Chu Đức Trọng nên đã giao nộp cho Cơ quan Công an.
Tại Kết luận định giá tài sản số 34/KL-HĐĐGTS ngày 19/4/2023 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đan Phượng kết luận trị giá các tài sản Tùng, Trung chiếm đoạt của chị Q là 11.925.000 đồng; số tiền chị Q tự kê khai 200.000 đồng; tổng giá trị tài sản Tùng và Trung chiếm đoạt của chị Q 12.125.000 đồng.
Chị Bùi Thị Q sau khi bị Tùng và Trung cướp giật túi xách thì bị ngã xuống đường nhưng không bị thương tích gì và từ chối giám định thương tích.
Về dân sự: Ngày 03/06/2023, chị Bùi Thị Q đã nhận lại giấy tờ tùy thân nêu trên và yêu cầu bị cáo Tùng bồi thường số tiền 12.125.000 đồng.
2. Vụ thứ hai: Trộm cắp tài sản
Khoảng 13 giờ, ngày 27 tháng 01 năm 2023, bị cáo Tùng điều khiển chiếc xe môtô Yamaha Mio màu bạc BKS: 29K1-636.23 (vật chứng trong vụ thứ 7) đi đến nhà Nguyễn Văn D chơi. Do chiếc xe mô tô Yamaha Mio màu bạc BKS: 29K1-636.23 đã cũ và muốn có xe khác để làm phương tiện đi lại nên Tùng và Dũng rủ nhau và bàn bạc thống nhất đi trộm cắp tài sản. Tùng điều khiển xe mô tô Yamaha Mio chở Dũng đi đến quận Nam Từ Liêm, khi đi đến đường Nguyễn Văn Giáp, phường Cầu Diễn, quận Nam Từ Liêm, Dũng và Tùng thấy 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng-đen BKS: 29E2-340.00, số khung RLHJA3901HY407229, số máy: JA39E-0382383 của anh Lê Duy Q, sinh năm 1989; hộ khẩu thường trú: số 5, ngõ 68, tổ 11, phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, đang để trước cửa nhà số 201, xe không khóa cổ, không khóa càng, xung quanh không có ai trông coi. Tùng điều khiển xe đi lên phía trước cách vị trí chiếc xe Wave khoảng 20m để cảnh giới, Dũng đi bộ đến vị trí chiếc xe và lén lút dắt chiếc xe về phía của Tùng. Sau đó Tùng và Dũng di chuyển xe BKS: 29E2-340.00 ra đầu đường Nguyễn Văn Giáp, phường Cầu Diễn. Tại đây, Dũng sử dụng 01 chiếc tuốc nơ vít trong cốp xe của Tùng tháo mặt nạ trước của xe Honda Wave vừa trộm cắp được, đấu nối dây điện để khởi động xe. Dũng điều khiển chiếc xe vừa trộm cắp được về nhà Dũng, còn Tùng điều khiển chiếc xe Yamaha Mio về nhà Tùng rồi đi bộ sang nhà Dũng để lấy chiếc xe Honda Wave BKS: 29E2-340.00 mang về nhà. Sau đó, Tùng thuê 01 người đàn ông không quen biết làm nghề sửa chữa chìa khóa dạo trên đường đánh mới cho Tùng 01 chiếc chìa khóa phù hợp với ổ khóa của chiếc xe trên với giá 100.000 đồng, Tùng sử dụng chiếc xe này làm phương tiện đi lại đến ngày 07/02/2023 thì bị Cơ quan điều tra thu giữ trong quá trình khám xét.
Kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐGTS ngày 28/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quốc Oai kết luận: 01 xe máy Honda Wave BKS 29E2-340.00 tại thời điểm ngày 27/01/2023 có giá trị là 11.067.000 đồng.
Về dân sự: Ngày 03 tháng 6 năm 2023, anh Lê Duy Q đã được nhận lại chiếc xe máy Honda Wave BKS: 29E2- 340.00 và không đề nghị gì về dân sự.
3. Vụ thứ ba: Cướp giật tài sản:
Khoảng 18 giờ, ngày 27 tháng 01 năm 2023, bị cáo Nguyễn Đức T điều khiển xe mô tô Honda Wave BKS 29E2-340.00 (vật chứng trong vụ thứ 2), tháo bỏ BKS đến nhà Nguyễn Văn D rủ Dũng đi cướp giật tài sản. Tùng điều khiển xe chở Dũng ngồi phía sau đi đến khu vực thôn Miễu, xã Hữu Bằng, huyện Thạch Thất, thì thấy chị Phan Thị N, sinh năm 1983, ở thôn Miễu, xã Hữu Bằng, huyện Thạch Thất đang điều khiển xe máy điện màu trắng không gắn BKS đi cùng chiều phía trước (hướng UBND xã Hữu Bằng đi UBND xã Dị Nậu, huyện Thạch Thất). Tùng điều khiển xe áp sát bên trái chị Nhung, Dũng dùng tay phải cầm vào quai túi xách màu hồng chị Nhung đang đeo trên người giật mạnh về phía trước khiến phần dây đeo túi xách bị đứt, chị Nhung ngã xuống đường. Sau đó, Dũng và Tùng nhanh chóng tẩu thoát khỏi hiện trường. Dũng và Tùng đi đến khu vực ven đường giáp cánh đồng thôn Phúc Đức, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai thì dừng xe kiểm tra tài sản vừa cướp giật được. Dũng lấy trong túi xách của chị Nhung 01 điện thoại Samsung Galaxy M32 màu xanh và số tiền 2.600.000 đồng, vứt bỏ chiếc túi xách và giấy tờ tùy thân ở ven đường. Tùng và Dũng chia nhau mỗi người được 1.300.000 đồng, Tùng cầm chiếc điện thoại Samsung galaxy M32 màu xanh, tắt bỏ nguồn. Đến sáng ngày 28 tháng 01 năm 2023, Tùng mang chiếc điện thoại trên bán cho anh Nguyễn Hồng Phúc (sinh năm 1981; HKTT: thôn 3, xã Yên Sở, huyện H, TP Hà Nội) là chủ cửa hàng điện thoại Phúc Kiên ở Thị trấn T, huyện H với giá 1.700.000 đồng, Tùng không chia cho Dũng số tiền này, Dũng và Tùng đã tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi bị cướp giật tài sản, ngày 28 tháng 01 năm 2023 chị Nhung đã tự đi tìm kiếm thì thấy chiếc túi xách của mình bị rơi ở ven đường khu vực cánh đồng thôn Phúc Đức, xã Sài Sơn nhưng bên trong không còn tài sản gì, sau đó chị Nhung đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 túi xách bằng giả da màu hồng, kích thước (11x 20) cm; Ngày 09/02/2023, anh Nguyễn Hồng Phúc đã giao nộp chiếc điện thoại Samsung Galaxy M32 màu xanh, bên trong không lắp sim điện thoại, số IMEI1: 359093385771474, IMEI2:3597686845771475 cho Cơ quan điều tra.
Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS ngày 26/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quốc Oai kết luận: 01 túi xách giả da màu hồng, kích thước (11x20) cm trị giá 380.000 đồng; 01 điện thoại Samsung M32 màu xanh tại thời điểm ngày 27/01/2023 có giá trị là 2.400.000 đồng; tổng cộng giá trị định giá trên là 2.780.000 đồng.
Về dân sự: Chị Phan Thị N bị ngã xuống đường, bị xây xát đầu gối chân trái, khuỷu tay trái nhưng do thương tích nhẹ, chị Nhung không điều trị tại các cơ sở y tế, từ chối giám định thương tích và không yêu cầu gì về việc bị ngã gây thương tích. Ngày 03/06/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Nhung 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy M32; 01 túi xách màu hồng. Chị Nhung yêu cầu các Bị cáo phải bồi thường số tiền bên trong túi xách bị cướp giật là 2.600.000 đồng.
4. Vụ thứ tư: Cướp giật tài sản
Khoảng 11 giờ ngày 28 tháng 01 năm 2023, bị cáo Nguyễn Đức T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave số khung: RLHJA3901HY407229, số máy: JA39E-0382383 (vật chứng trong vụ thứ 2) tháo bỏ Biển số 29E2-340.00, đi đến nhà Nguyễn Văn D rủ Dũng đi cướp giật tài sản. Sau khi bàn bạc thống nhất xong, Dũng gắn BKS 36B2- 575.29 (Dũng khai nhặt được trước đó tại khu vực đại lộ Thăng Long) vào xe Wave; Tùng điều khiển xe chở Dũng đi đến khu vực nghĩa trang Ngọc Trục, phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm thì thấy chị Phạm Thị Lan A, sinh năm 1995; hộ khẩu thương trú: xóm Quyết Tâm, xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đang điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Vision biển số 20F1-312.58 đi cùng chiều với Tùng và Dũng. Tùng điều khiển xe áp sát bên trái chị Lan A, Dũng có hành vi dùng tay phải cầm vào quai túi xách màu đen mà chị Lan A đang đeo trên người rồi giật mạnh về phía trước khiến dây đeo túi xách bị đứt, chị Lan A ngã xuống đường. Sau khi cướp giật được túi xách thì Tùng và Dũng nhanh chóng tẩu thoát khỏi hiện trường, khi đi đến khu vực cánh đồng xã Lại Yên, huyện H, Tùng và Dũng dừng xe kiểm tra tài sản vừa chiếm đoạt được thấy bên trong có 01 điện thoại Xiaomi note 10 màu xanh và số tiền 4.000.000 đồng, giấy tờ tùy thân của chị Lan A. Dũng và Tùng chia nhau mỗi người được 2.000.000 đồng, Dũng cầm chiếc điện thoại Xiaomi Note 10 màu xanh và tắt bỏ nguồn; Dũng và Tùng vứt bỏ 01 chiếc túi xách màu đen bên trong có giấy tờ tùy thân của chị Lan A ở khu vực cánh đồng. Sáng ngày 29/01/2023, Dũng mang chiếc điện thoại bán cho anh Nguyễn Hồng Phúc, sinh năm 1981, là chủ cửa hàng điện thoại Phúc Kiên ở Thị trấn T, huyện H với giá 1.800.000 đồng, Dũng không chia cho Tùng số tiền này. Dũng và Tùng đều đã tiêu xài cá nhân hết số tiền chiếm đoạt được. Sau khi mua chiếc điện thoại trên thì anh Phúc đã bán cho một người thanh niên lạ mặt nên cơ quan điều tra không thu hồi được.
Ngày 09 tháng 02 năm 2023, Cơ quan điều tra dẫn giải Tùng và Dũng đến vị trí Tùng và Dũng khai vứt bỏ túi ở khu vực cánh đồng xã Lại Yên, huyện H, thu giữ được 01 chiếc túi xách màu đen in chữ Chemist KHTAE bên trong có 01 CCCD tên Phạm Thị Lan A. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm vật là 01 điện thoại Xiaomi note 10 màu xanh nhưng đến nay chưa thu hồi được.
Kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐGTS ngày 28/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quốc Oai kết luận: 01 túi xách da màu đen, kích thước (16x24) cm tại thời điểm ngày 28/01/2023 có giá trị là 70.000 đồng; 01 điện thoại Xiaomi Note 10 màu xanh tại thời điểm ngày 28/01/2023 có giá trị là 2.500.000 đồng. Tổng cộng giá trị định giá trên là 2.570.000 đồng.
Dũng và Tùng cướp giật túi xách làm chị Phạm Thị Lan A bị ngã xuống đường và bị chấn thương khung chậu – toác khớp cùng chậu trái – gãy ngành ngồi mu trái, phải điều trị tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông. Ngày 25/4/2023 Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an có Bản kết luận giám định số 2785/KL-KTHS kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Lan A là 12%, cơ chế hình thành thương tích do vật tày gây nên.
Về dân sự: Ngày 03 tháng 6 năm 2023, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Phạm Thị Lan A 01 túi xách màu đen. Chị Lan A yêu cầu bị cáo Tùng, Dũng phải bồi thường tổng số tiền là 39.010.000 đồng (gồm tài sản bị chiếm đoạt 6.500.000 đồng; tiền khám và điều trị thương tích của chị Lan A là 4.510.000 đồng; tiền công lao động của chị Lan A bị thiệt hại từ ngày 28/01/2023 đến ngày 09/4/2023 là 28.000.000 đồng).
5. Vụ thứ năm: Cướp giật tài sản
Khoảng 14 giờ ngày 29 tháng 01 năm 2023, bị cáo Nguyễn Đức T điều khiển xe mô tô Honda Wave biển số 29E2-340.00 (vật chứng vụ thứ 2), tháo bỏ BKS đến nhà Nguyễn Văn D rủ và bàn bạc thống nhất với Dũng đi cướp giật tài sản. Sau đó, Tùng điều khiển xe mô tô Honda Wave chở Dũng ngồi phía sau đi đến khu vực Phố huyện, thị trấn Quốc Oai, huyện Quốc Oai thì thấy bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1967; hộ khẩu thường trú: thôn Yên Nội, xã Đồng Quang, huyện Quốc Oai đang điều khiển xe Honda Wave màu đỏ BKS 34M4-7863 đi bên phải cùng chiều với Tùng và Dũng hướng đê xã Đồng Quang đi UBND huyện Quốc Oai. Tùng điều khiển xe Honda Wave áp sát phía bên trái bà Xuân, Dũng có hành vi dùng tay phải cầm vào quai túi xách màu đen mà bà Xuân đang đeo trên người giật mạnh về phía trước khiến phần dây đeo túi xách bị đứt, bà Xuân ngã xuống đường. Sau đó, Dũng và Tùng nhanh chóng tẩu thoát khỏi hiện trường. Khi đi đến bãi rác gần cầu Yên Sở, huyện H, Tùng và Dũng dừng xe kiểm tra tài sản vừa chiếm đoạt được. Dũng lấy trong túi xách màu đen của bà Xuân 01 điện thoại Samsung Galaxy M02 màu đen, số tiền 1.000.000 đồng, vứt bỏ chiếc túi xách màu đen bên trong có giấy tờ tùy thân của bà Xuân ở khu vực bãi rác. Tùng và Dũng chia nhau mỗi người được 500.000 đồng. Dũng tắt nguồn chiếc điện thoại Samsung Galaxy M02. Đến khoảng 15 giờ ngày 02/02/2023, Dũng mang chiếc điện thoại bán cho anh Nguyễn Hồng Phúc, sinh năm 1981, là chủ cửa hàng điện thoại Phúc Kiên ở thị trấn T, huyện H với giá 800.000 đồng. Dũng không chia cho Tùng số tiền này. Số tiền có được sau khi cướp giật tài sản của bà Xuân thì Dũng và Tùng đều đã tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 09 tháng 02 năm 2023, anh Nguyễn Hồng Phúc đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc điện thoại di động Sam sung GALAXY M02 màu đen, bên trong không lắp sim điện thoại, số IMEI1: 350711263525998, IMEI2:356613223525999.
Kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐGTS ngày 25/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quốc Oai kết luận: 01 túi xách da màu đen, kích thước (15x20) cm tại thời điểm ngày 29/01/2023 có giá trị là 53.000 đồng; 01 điện thoại Samsung M02 màu đen tại thời điểm ngày 29/01/2023 có giá trị là 1.100.000 đồng; Tổng cộng giá trị định giá trên là: 1.153.000 đồng.
Bị cáo Dũng, Tùng cướp giật túi xách làm bà Nguyễn Thị X bị ngã xuống đường và bị xây xát ở đầu gối bên trái nhưng do thương tích nhẹ nên không điều trị ở cơ sở y tế nào và từ chối giám định thương tích.
Về dân sự: Ngày 03 tháng 6 năm 2023, Cơ quan điều tra đã trả lại bà Nguyễn Thị X 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy M02. Bà Xuân yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tài sản bị chiếm đoạt là 1.053.000 đồng (gồm số tiền 1.000.000 đồng và giá trị của chiếc túi xách là 53.000 đồng).
6. Vụ thứ 6: Cướp giật tài sản:
Khoảng 12 giờ ngày 04/02/2023, bị cáo Nguyễn Đức T điều khiển xe môtô Honda Wave số khung: RLHJA3901HY407229, số máy: JA39E-0382383 gắn biển kiểm soát 36B2- 575.29 (biển của xe khác do Dũng nhặt được trước đó ở đường Đại lộ Thăng Long). Khi đi đến khu vực chùa Long Đẩu thuộc thôn Đa Phúc, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội, Tùng và Dũng nhìn thấy bà Hoàng Thị Thu H, bà Hoàng Thị Bích (em ruột bà Hằng) đang đi bộ trên đường hướng từ cổng chùa Long Đẩu ra bãi gửi xe ôtô của chùa Thầy, lúc này, trên người bà Hằng có đeo 01 chiếc túi xách màu trắng sữa, bên trong túi có 01 chiếc điện Iphone 13 Promax màu đen xám dung lượng 256GB và số tiền 13.600.000 đồng. Tùng điều khiển xe mô tô áp sát bên trái bà Hằng, Dũng dùng tay phải giật mạnh quai túi xách của bà Hằng làm bà Hằng bị ngã xuống đất. Dũng không giật đứt được dây quai túi xách nên không chiếm đoạt được tài sản. Do lo sợ bị bắt giữ nên Hùng và Dũng nhanh chóng tẩu thoát khỏi hiện trường; Hậu quả: Bà Hằng bị ngã va đập đầu xuống đường, bị tụ máu dưới da đầu vùng trán đỉnh trái, xuất huyết dưới nhện, điều trị tại Bệnh viện đa khoa Hồng Ngọc từ ngày 04/02/2023 đến ngày 09/02/2023 thì ra viện.
Ngày 07/02/2023, bà Hằng có đơn trình báo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quốc Oai đã điều tra làm rõ toàn bộ nội dung vụ án như nêu trên.
Kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 26/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quốc Oai kết luận: 01 túi xách da màu trắng, kích thước (13x23) cm, tại thời điểm ngày 04/02/2023 có giá trị là 187.000 đồng; 01 chiếc điện Iphone 13 Promax màu đen xám, dung lượng 256GB tại thời điểm ngày 04/02/2023 có giá trị là: 21.500.000 đồng. Tổng cộng giá trị tài sản định giá trên là 21.687.000 đồng;
- Số tiền bà Hằng kê khai có trong túi xách là 13.600.000 đồng;
Về dân sự: Do bà Hằng chưa bị mất tài sản nên không có đề nghị gì về bồi thường dân sự. Đối với việc bị thương tích, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích, tuy nhiên bà Hằng có đơn từ chối giám định và không đề nghị gì về việc bị ngã gây thương tích.
7. Vụ thứ bảy: Trộm cắp tài sản.
Ngoài các vụ án nêu trên, bị cáo Nguyễn Đức T còn khai nhận: Khoảng 10 giờ một ngày cuối tháng 10/2022, Tùng đi bộ từ nhà ở khu 1, thị trấn T, huyện H đến nhà bố mẹ Tùng ở khu 7, thị trấn T, huyện H, khi đi qua ngõ 12, đường tuyến số 2 thuộc khu 1, thị trấn T, Tùng nhìn thấy có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Mio màu bạc BKS: 29K1-636.23 đang dựng ở đầu ngõ, chìa khoá ở ổ khóa điện, xung quanh không có người trông coi. Tùng nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy trên để làm phương tiện đi lại nên đã lại gần chiếc xe, dùng tay phải mở khóa điện khởi động xe và điều khiển chiếc xe tẩu thoát khỏi hiện trường. Ngày 07/02/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quốc Oai đã thu giữ 01 chiếc xe mô tô Yamaha Mio màu bạc, BKS: 29K1-636.23, số khung: RLCM5WP104Y004878, số máy: 5WP1-04878.
Kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐGTS ngày 27/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quốc Oai kết luận: Chiếc xe môtô Yamaha Mio màu bạc BKS: 29K1-636.23(xe đã qua sử dụng) tại thời điểm cuối tháng 10/2022 có giá trị là 2.100.000 đồng.
Ngày 21/4/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội có Kết luận giám định số 2393/KL-KTHS kết luận số khung RLHJA3901HY407229; số máy JA39E-038238 của chiếc xe Honda Wave BKS 29E2-340.00 và số khung RLCM5WP104Y004878; số máy 5WP1-04878 của chiếc xe Yamaha Mio BKS 29K1-636.23 là số khung, số máy nguyên thủy; không giám định 03 biển kiểm soát: 29E2-340.00; 29K1-636.23; 36B2-575.29 là thật hay giả do không có mẫu so sánh.
Xác minh chủ đăng ký chiếc xe môtô Yamaha Mio màu bạc BKS: 29K1-636.23 là chị Nguyễn Phương Mai trú tai địa chỉ 20/298/26 Ngọc Lâm, quận Long Biên; chị Mai khai mua chiếc xe từ năm 2017 đến năm 2018 đã bán chiếc xe cho một cửa hàng xe máy cũ trên địa bàn Hà Nội nhưng không nhớ địa chỉ, việc mua bán không có giấy tờ; tra cứu xe máy vật chứng, chiếc xe không có trong dữ liệu xe vật chứng;
Đối với vụ án thứ 1, 2, 3, 4 và vụ thứ 7 xảy ra tại địa bàn các quận/huyện Đan Phượng, Thạch Thất, Nam Từ Liêm và H – thành phố Hà Nội, sau khi Cơ quan CSĐT Công an huyện Quốc Oai khởi tố vụ án “Cướp giật tài sản” xảy ra ngày 04/02/2023 (vụ thứ 6) và khởi tố đối với Nguyễn Đức T và Nguyễn Văn D, Cơ quan CSĐT Công an các quận, huyện trên đã chuyển toàn bộ hồ sơ tin báo, tố giác tội phạm đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Quốc Oai thụ lý điều tra theo quy định pháp luật.
* Cáo trạng số: 49/CT-VKSQO ngày 13 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Cướp giật tài sản”, và tội “Trộm cắp tài sản”, theo điểm b, c, d, e khoản 2, Điều 171 và khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 và bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Cướp giật tài sản”, và tội “Trộm cắp tài sản”, theo điểm d, e, i khoản 2, Điều 171 và điểm g khoản 2, Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm vụ án và đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo phạm tội về tội “Cướp giật tài sản”, và tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 2, Điều 171 và khoản 1, 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Các bị cáo có nhân thân xấu, nhiều tiền án chưa được xoá án tích, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Đề nghị về hình phạt: Hình phạt chính:
- Áp dụng điểm b, c, d, e khoản 2, Điều 171 và khoản 1, Điều 173; Điều 17, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức T từ 07 đến 08 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” và từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 08 năm đền 09 năm 3 tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 07 tháng 02 năm 2023.
- Áp dụng điểm d, e, i khoản 2, Điều 171 và điểm g khoản 2, Điều 173; Điều 17, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn D từ 06 đến 07 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” và từ 30 tháng đến 36 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 08 năm 06 tháng đền 10 năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 07 tháng 02 năm 2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo do các bị cáo không có công ăn việc làm, không có thu nhập ổn đinh.
* Về dân sự: Bị cáo Nguyễn Đức T phải chịu trách nhiệm hình sự về 05 vụ cướp giật tổng giá trị tài sản là 61.515.000 đồng; 01 vụ trộm cắp tài sản trị giá tài sản 11.067.000 đồng và làm tổn hại cho sức khỏe của chị Phạm Thị Lan A với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%; Bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu trách nhiệm hình sự về 04 vụ cướp giật tài sản, tổng giá trị tài sản là 49.390.000 đồng; 01 vụ trộm cắp tài sản trị giá tài sản 11.067.000 đồng và làm tổn hại cho sức khỏe của chị Phạm Thị Lan A với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%.
- Buộc bị cáo Nguyễn Đức T phải bồi thường cho chị Bùi Thị Q số tiền 12.125.000 đồng (do chưa điều tra được đối tượng tên Trung nên Tùng phải chịu bồi thường toàn bộ giá trị tài sản cho chị Q); Bồi thường cho chị Phan Thị N 1.300.000 đồng; Bồi thường cho chị Phạm Thị Lan A số tiền 17.700.000 đồng (do điện thoại lấy của chị Lan A là Dũng bán không chia cho Tùng). Bồi thường cho chị Nguyễn Thị X số tiền 530.000 đồng (do điện thoại lấy của chị Xuân là Dũng bán không chia cho Tùng).
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải bồi thường cho chị Phan Thị N 1.300.000 đồng; Bồi thường cho chị Phạm Thị Lan A số tiền 21.300.000đ (do điện thoại lấy của chị Lan A là Dũng bán không chia cho Tùng). Bồi thường cho chị Nguyễn Thị X số tiền 1.623.000 đồng (do điện thoại lấy của chị Xuân là Dũng bán không chia cho Tùng).
- Anh Lê Duy Q đã được nhận lại chiếc xe máy Honda Wave BKS: 29E2-340.00 và không đề nghị gì về dân sự và bà Hằng chưa bị mất tài sản nên không có đề nghị gì về bồi thường dân sự và có đơn từ chối giám định và không đề nghị gì về việc bị ngã gây thương tích.
- Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong hình sự.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu huỷ: 01 đôi giầy thể thao bằng vải màu nâu cũ, đã qua sử dụng; 01 áo phao màu xanh đen cũ, đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm màu xanh cũ kiểu lưỡi trai, đã qua sử dụng, phía trước bên trái có chữ Kappa, phía sau bên phải có chữ Style; 01 cờ lê bằng kim loại cũ đã qua sử dụng, một đầu có số 14, một đầu có số 10; 01 mũ bảo hiểm màu xanh nửa đầu kiểu lưỡi trai đã qua sử dụng, trên mũ có hình đầu thỏ màu trắng; 01 đôi thể thao bằng vải màu đen đã qua sử dụng, đế màu trắng; 01 áo phao màu đen đã qua sử dụng, sau áo có chữ KB-24; 01 biển kiểm soát 36B2-575.29.
Chiếc xe môtô Yamaha Mio màu bạc BKS: 29K1-636.23 tách kèm tài liệu giải quyết trong 01 vụ tin báo khác là phù hợp với quy định của pháp luật.
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, các bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để được sớm trở về gia đình.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo, các bị hại và những người làm chứng.
NHẬN ĐỊNH HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1] Quá trình giải quyết vụ án, các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, về thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, các bị hại và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về chứng cứ xác định tội danh: Hội đồng xét xử xét thấy lời khai các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với vật chứng đã thu giữ trong vụ án; Kết luận định giá tài sản, kết hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ kết luận tội. Trong khoảng thời gian từ ngày 10/01/2023 đến ngày 04/02/2023, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo Tùng và nam giới Trung (không rõ nhân thân, địa chỉ) thực hiện 01 vụ cướp giật tài sản trên địa bàn huyện Đan Phượng; bị cáo Tùng và bị cáo Dũng thực hiện 04 vụ cướp giật tài sản, 01 vụ trộm cắp tài sản trên các địa bàn huyện Nam Từ Liêm; Thạch Thất, Quốc Oai để lấy tiền tiêu sài cá nhân, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 19 giờ ngày 10/01/2023, tại khu vực ngõ Vàng Thượng thuộc cụm 4, xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng Nguyễn Đức T và nam giới tên Trung (không rõ nhân thân, địa chỉ) cướp giật của chị Bùi Thị Q 01 chiếc túi xách màu đen bên trong có 01 chiếc điện thoại Iphone 11 màu đen; 01 chiếc điện thoại OPPO A83 màu đen; 01 ví màu vàng; số tiền 200.000 đồng và một số giấy tờ khác, tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 12.125.000 đồng.
Vụ thứ 2: Khoảng 13 giờ, ngày 27/01/2023, tại khu vực trước cửa nhà số 201, đường Nguyễn Văn Giáp, phường Cầu Diễn, quận Nam Từ Liêm, Tùng và Nguyễn Văn D đã trộm cắp của anh Lê Duy Q 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng-đen BKS: 29E2-340.00, trị giá 11.067.000 đồng.
Vụ thứ 3: Khoảng 18 giờ, ngày 27/01/2023, tại khu vực thôn Miễu, xã Hữu Bằng, huyện Thạch Thất, Tùng và Dũng đã cướp giật của chị Phan Thị N 01 chiếc túi xách bên trong có 01 điện thoại Samsung Galaxy M32 và số tiền 2.600.000 đồng, giấy tờ tùy thân, tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 5.380.000 đồng.
Vụ thứ 4: Khoảng 11 giờ ngày 28/01/2023, tại khu vực nghĩa trang Ngọc Trục, phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Tùng và Dũng đã cướp giật của chị Phạm Thị Lan A 01 chiếc túi xách màu đen, bên trong có 01 điện thoại Xiaomi note 10 màu xanh; số tiền 4.000.000 đồng và giấy tờ tùy thân, tổng trị giá tài sản là 6.570.000 đồng. Chị Phạm Thị Lan A bị ngã xuống đường và bị chấn thương khung chậu – toác khớp cùng chậu trái – gãy ngành ngồi mu trái, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Lan A là 12%, cơ chế hình thành thương tích do vật tày gây nên.
Vụ thứ 5: Khoảng 14 giờ ngày 29/01/2023, tại khu vực Phố huyện, thị trấn Quốc Oai, huyện Quốc Oai, Tùng và Dũng đã cướp giật của bà Nguyễn Thị X 01 chiếc túi xách màu đen bên trong có 01 điện thoại Samsung Galaxy M02 màu đen, số tiền 1.000.000 đồng và giấy tờ tùy thân, tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 2.153.000 đồng.
Vụ thứ 6: Khoảng 13 giờ ngày 04/02/2023, tại khu vực bãi gửi xe ôtô của chùa Thầy, thôn Đa Phúc, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội, Tùng và Dũng đã cướp giật của bà Hoàng Thị Thu H 01 chiếc túi xách màu trắng sữa, bên trong có 01 chiếc điện Iphone 13 Promax màu đen xám, dung lượng 256GB và số tiền 13.600.000 đồng, tổng giá trị tài sản mà Tùng và Dũng xâm hại của bà Hằng là 35.287.000 đồng; tuy nhiên, do dây túi không bị đứt nên Tùng và Dũng chưa chiếm đoạt được tài sản. Bà Hằng bị ngã va đập đầu xuống đường, bị tụ máu dưới da đầu vùng trán đỉnh trái, xuất huyết dưới nhện, bà Hằng từ chối giám định nên không xác định được tỷ lệ thương tích.
[3] Thông qua diễn biến vụ án và quá trình thẩm vấn công khai tại phiên tòa cho thấy hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản, gây mất an toàn và trật tự công cộng được luật hình sự bảo vệ, ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Tại thời điểm các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp, nên hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết định khung hình phạt:
- Các bị cáo không có thu nhập thiếu tiền tiêu xài lấy việc cướp giật tài sản của người khác làm nguồn sống chính thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Các bị cáo chiếm đoạt trong 05 vụ cướp giật tài sản và 01 trộm cắp tài sản có tổng tài sản giá trị là 72.582.000 đồng thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Các bị cáo đều sử dụng xe máy là phương tiện nguy hiểm để thực hiện hành vi thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
- Các bị cáo làm tổn hại cho sức khỏe của chị Phạm Thị Lan A với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%. thuộc trường hợp quy định tại điểm e khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[5] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn D bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình nên đều được áp dụng tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, đều là đối tượng nghiện ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 171 và Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[8] Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn các bị cáo đều giữ vai trò là người thực hành, tuy nhiên đánh giá vai trò của bị cáo Tùng, bị cáo Dũng là ngang nhau nên mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo như sau:
Đối với bị cáo Nguyễn Đức T: Tiền án: Không; Tiền sự: năm 2020 Toà án nhân dân huyện H áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại trung tâm giáo dục lao động xã hội số I, thành phố Hà Nội, tuy nhiên Tùng đã trốn khỏi địa phương, chưa chấp hành quyết định cai nghiện. Nhân thân: Ngày 20/09/2013, UBND huyện H áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại trung tâm giáo dục lao động xã hội số IV, thành phố Hà Nội theo Quyết định số 4320/QĐ-UBND. Ngày 21/9/2015, Nguyễn Đức T đã chấp hành xong việc cai nghiện ma túy tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội số IV Hà Nội.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn D: Tiền sự: không; Tiền án: 03 tiền án:
- Ngày 12/7/2007, Toà án nhân dân huyện Từ Liêm xử phạt 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 127/2007/HSST; ra ngại ngày 17/02/2008; đã chấp hành án phí; chưa bồi thường trách nhiệm dân sự, chưa xóa án tích.
- Ngày 07/11/2017, Toà án nhân dân huyện H xử phạt 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 78/2017/HSST; ra trại ngày 27/01/2019; đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm ngày 26/12/2019; chưa được xóa án tích.
- Ngày 17/02/2020, Toà án nhân dân huyện Quốc Oai xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 theo Bản án số 06/2020/HSST, ra trại ngày 13/9/2022; đã nộp án phí ngày 25/11/2020, chưa được xóa án tích.
Do vậy lần phạm tội này của bị cáo Dũng thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm g, khoản 2, Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Nhân thân: Năm 1999 bị UBND tỉnh Hà Tây ra Quyết định đưa người vào trường giáo dưỡng trong thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 844/QĐ-UB ngày 29/12/1999. Ngày 11/10/2001 Dũng đã chấp hành xong thời hạn giáo dưỡng theo giấy chứng nhận số 325/GCN của Trường Giáo dưỡng số 2, Bộ Công an; Ngày 23/12/2003, Toà án nhân dân huyện H xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 45/2003/HSST và phải nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 20/01/2006 đã xóa án tích; Ngày 14/11/2012, UBND huyện H ra Quyết định đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại trung tâm giáo dục lao động xã hội số III Hà Nội. Ngày 15/11/2016 Nguyễn Văn D đã chấp hành xong việc cai nghiện ma túy tại trung tâm giáo dục lao động xã hội số III Hà Nội.
[9] Các nội dung liên quan đến các bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Các bị hại đều có đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị giải quyết vụ án theo các lời khai đã trình bày tại cơ quan điều tra; các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triều tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt.
- Đối với đối tượng tên Trung: bị cáo Tùng khai quen biết Trung từ khoảng năm 2012 khi Tùng và Trung cùng sử dụng ma túy với nhau, sau đó từ năm 2012 đến 2023 Tùng không gặp Trung. Ngày 10/01/2023, Trung đến nhà Tùng chơi và rủ Tùng đi cướp giật tài sản, Tùng không biết họ tên đầy đủ và số điện thoại của Trung. Do Tùng không biết họ tên, địa chỉ, số điện thoại của Trung nên Cơ quan điều tra không có căn cứ tiếp tục điều tra làm rõ.
- Đối với Nguyễn Trọng Đạt và Lê Hoàng Anh: Tại Cơ quan điều tra, Đạt khai người bán điện thoại cho Đạt khoảng 30 tuổi, người cao, gầy, đeo khẩu trang; khi bán điện thoại, người này nói là điện thoại của anh ta không dùng nữa nên bán, vì vậy, nên Đạt không biết là tài sản do Trung phạm tội mà có. Bị cáo Tùng khai Trung là người bán điện thoại, Tùng đứng bên ngoài cửa hàng nên không biết Trung và Đạt trao đổi nội dung gì. Do không xác định được nhân thân của đối tượng tên Trung nên không có căn cứ xử lý đối với Nguyễn Trọng Đạt và Hoàng Anh về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
- Đối với anh Nguyễn Hồng Phúc: Tại thời điểm Tùng bán chiếc điện thoại cho anh Phúc, Tùng tự nhận là điện thoại của mình, điện thoại không cài mật khẩu nên anh Phúc không biết đó là tài sản do Tùng phạm tội mà có. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh Phúc là có căn cứ và đúng pháp luật. Anh Phúc không yêu cầu bị cáo Dũng và Tùng bồi thường về dân sự.
- Đối với anh Nguyễn Hồng Phúc: Tại thời Dũng bán chiếc điện thoại cho anh Phúc, Dũng tự nhận là điện thoại của mình, điện thoại không cài mật khẩu nên anh Phúc không biết đó là tài sản do Dũng phạm tội mà có. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh Phúc là có căn cứ và đúng pháp luật.
- Đối với anh Nguyễn Hồng Phúc: Tại thời điểm bị cáo Dũng bán chiếc điện thoại cho anh Phúc, bị cáo Dũng tự nhận là điện thoại của mình, điện thoại không được cài đặt mật khẩu, phù hợp với lời khai của chị Lan A về việc không cài mật khẩu điện thoại, Dũng đã tự cài đặt mật khẩu rồi mang đến bán cho anh Phúc nên anh Phúc không biết đó là tài sản do Dũng phạm tội mà có. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh Phúc là có căn cứ và đúng pháp luật.
- Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Quốc Oai đã dẫn giải bị cáo Tùng chỉ địa điểm trộm cắp và rà soát, ra Thông báo truy tìm bị hại; tuy nhiên hết thời hạn điều tra vụ án, chưa xác định được chủ sở hữu của chiếc xe môtô Yamaha Mio màu bạc BKS: 29K1-636.23. Ngoài lời khai của Tùng, hồ sơ không có tài liệu nào khác khẳng định Tùng trộm cắp chiếc xe nói trên. Vì vậy, ngày 05/6/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quốc Oai ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đến vụ việc trên để tiếp tục giải quyết theo thủ tục tin báo, tố giác tội phạm là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
- Đối với chiếc biển số xe 36B2-575.29, bị cáo Dũng khai nhặt được tại ven đường khu vực đường Đại lộ Thăng Long từ khoảng đầu tháng 01/2023, không trộm cắp chiếc xe nào gắn BKS trên. Kết quả xác minh chiếc BKS trên là biển của xe Yamaha Novo số khung 2B55206Y117822; số máy 2B52117822, chủ đăng ký là ông Lương Văn Chuyên, sinh năm 1977, địa chỉ: bản Sắng, xã Yên Khương, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa, ông Chuyên khai mua và sử dụng chiếc xe nói trên khoảng năm 2013, đến năm 2016 bán xe cho người khác, khi bán không làm giấy tờ, vẫn còn nguyên biển số xe. Ngày 06/4/2023 Cơ quan điều tra đã đăng thông báo truy tìm chủ sở hữu biển số xe 36B2-575.29 trên báo An ninh Thủ đô, nhưng đến nay chưa xác định được là ai, xe không có trong dữ liệu xe vật chứng. Vì vậy, không có cơ sở khẳng định bị cáo Dũng trộm cắp chiếc xe hay chiếc BKS nêu trên.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 589 và Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015: Buộc các bị cáo phải bồi thường cho các bị hại cụ thể như sau:
- Buộc bị cáo Nguyễn Đức T phải bồi thường cho chị Bùi Thị Q số tiền 12.125.000 đồng (do chưa điều tra được đối tượng tên Trung nên Tùng phải chịu bồi thường toàn bộ giá trị tài sản cho chị Q); Bồi thường cho chị Phan Thị N 1.300.000 đồng; Bồi thường cho chị Phạm Thị Lan A số tiền 17.700.000 đồng (do điện thoại lấy của chị Lan A là Dũng bán không chia cho Tùng). Bồi thường cho chị Nguyễn Thị X số tiền 530.000 đồng (do điện thoại lấy của chị Xuân là Dũng bán không chia cho Tùng).
- Buộc bị cáo Dũng phải bồi thường cho chị Phan Thị N 1.300.000 đồng; Bồi thường cho chị Phạm Thị Lan A số tiền 21.300.000đ (do điện thoại lấy của chị Lan A là Dũng bán không chia cho Tùng). Bồi thường cho chị Nguyễn Thị X số tiền 1.623.000 đồng (do điện thoại lấy của chị Xuân là Dũng bán không chia cho Tùng).
- Anh Lê Duy Q đã được nhận lại chiếc xe máy Honda Wave BKS: 29E2-340.00 và không đề nghị gì về dân sự và bà Hằng chưa bị mất tài sản nên không có đề nghị gì về bồi thường dân sự và có đơn từ chối giám định và không đề nghị gì về việc bị ngã gây thương tích, nên không đề cập xử lý trong vụ án này.
[11] Về vật chứng, xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu huỷ: 01 đôi giầy thể thao bằng vải màu nâu cũ, đã qua sử dụng; 01 áo phao màu xanh đen cũ, đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm màu xanh cũ kiểu lưỡi trai, đã qua sử dụng, phía trước bên trái có chữ Kappa, phía sau bên phải có chữ Style; 01 cờ lê bằng kim loại cũ đã qua sử dụng, một đầu có số 14, một đầu có số 10; 01 mũ bảo hiểm màu xanh nửa đầu kiểu lưỡi trai đã qua sử dụng, trên mũ có hình đầu thỏ màu trắng; 01 đôi thể thao bằng vải màu đen đã qua sử dụng, đế màu trắng; 01 áo phao màu đen đã qua sử dụng, sau áo có chữ KB-24; 01 biển kiểm soát 36B2-575.29.
Chiếc xe môtô Yamaha Mio màu bạc BKS: 29K1-636.23 tách kèm tài liệu giải quyết trong 01 vụ tin báo khác là phù hợp với quy định của pháp luật.
[12] Đề nghị của Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về Điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, phần xử lý vật chứng và bồi thường thiệt hại dân sự có căn cứ, phù hợp các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[13] Về án phí, quyền kháng cáo: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự. Các bị cáo và các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T và bị cáo Nguyễn Văn D, phạm tội “Cướp giật tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ điểm b, c, d, e khoản 2, Điều 171 và khoản 1, Điều 173; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức T 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp giật tài sản” và 01 (một) năm tù về tội “trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 08 (tám) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 07 tháng 02 năm 2023.
- Căn cứ điểm d, e, i khoản 2, Điều 171 và điểm g khoản 2, Điều 173; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn D 06 (sáu) năm tù về tội “Cướp giật tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội “trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 09 (chín) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 07 tháng 02 năm 2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm c, khoản 3, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu và tiêu huỷ: 01 (một) đôi giầy thể thao bằng vải màu nâu cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) áo phao màu xanh đen cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh cũ kiểu lưỡi trai, đã qua sử dụng, phía trước bên trái có chữ Kappa, phía sau bên phải có chữ Style; 01 (một) cờ lê bằng kim loại cũ đã qua sử dụng, một đầu có số 14, một đầu có số 10; 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh nửa đầu kiểu lưỡi trai đã qua sử dụng, trên mũ có hình đầu thỏ màu trắng; 01 (một) đôi thể thao bằng vải màu đen đã qua sử dụng, đế màu trắng; 01 áo phao màu đen đã qua sử dụng, sau áo có chữ KB-24; 01 (một) biển kiểm soát 36B2-575.29 theo Biên bản bàn giao nhận vật chứng, tài sản số 65/2023/THA ngày 09 tháng 8 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 589 và Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015: Buộc các bị cáo phải bồi thường cho các bị hại như sau:
- Buộc bị cáo Nguyễn Đức T phải bồi thường cho chị Bùi Thị Q số tiền 12.125.000 đồng; Bồi thường cho chị Phan Thị N số tiền 1.300.000 đồng; Bồi thường cho chị Phạm Thị Lan A số tiền 17.700.000 đồng; Bồi thường cho bà Nguyễn Thị X số tiền 530.000 đồng.
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải bồi thường cho chị Phan Thị N 1.300.000 đồng; Bồi thường cho chị Phạm Thị Lan A số tiền 21.300.000 đồng; Bồi thường cho chị Nguyễn Thị X số tiền 1.623.000 đồng.
Kể từ ngày chị Bùi Thị Q, chị Phan Thị N, chị Phạm Thị Lan A, bà Nguyễn Thị X có đơn yêu cầu thi hành án, nếu các bị cáo không chịu bồi thường số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải trả số tiền lãi đối với số tiền chưa trả theo mức lãi suất theo qui định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương tứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
- Bị cáo Nguyễn Đức T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.582.750 đồng (một triệu, năm trăm tám hai nghìn, bảy trăm năm mươi) đồng án phí dân sự sơ thẩm;
- Bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.211.150 đồng (một triệu, hai trăm mười một nghìn, một trăm năm mươi) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 các bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày 15 tháng 9 năm 2023; Các bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về những nội dung liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản bản được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Bị hại; người liên quan; - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Quốc Oai; - Trại tạm giam số 1 Công an TP Hà Nội; - Công an huyện Quốc Oai; - Chi cục THA dân sự huyện Quốc Oai; - UBND thị trấn T, huyện H, thành phố Hà Nội; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Ngọc Long |