vanban.org

Bản án 69/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 30/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất Ma túy”

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, phạt bổ sung bị cáo 5.000.000đ(Năm triệu đồng) sung quỹ nhà nước. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu huỷ bỏ 05 phong bì niêm phong số 112/01, 112/02, 112/03, 112/4. 112/5 cùng n…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Ngà - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần b…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất Ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN L H
TỈNH VĨNH L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––
Bản án số: 69/2023/HS-ST
Ngày 07/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L H- TỈNH VĨNH L

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Trí Trường

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Trần Thành Khen

2/ Ông Trần Thanh Hiếu

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mỹ Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện L H - tỉnh Vĩnh L.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L H tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diễm Thuý - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện L H xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2023 đối với:

Bị cáo Nguyễn Tấn H1, sinh ngày 24/5/1993. Tại tỉnh Vĩnh L

Nơi cư trú: Số 75 Phạm Thái Bường, khóm 4, phường 4, thành phố Vĩnh L, tỉnh Vĩnh L.

Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Q tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Nguyễn Minh S, sinh năm 1969; Mẹ: Bùi Thị Ngọc G, sinh năm 1971; Anh chị em ruột có 02 nguời (Lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2004). Tiền sự: Không; Tiền án: Không

Nhân thân: Chưa có tiền án, tiền sự

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/02/2023 đến nay có mặt tại toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong H sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Tấn H1 là đối tượng sử dụng ma túy, H1 thuê phòng trọ số 11, nhà trọ Duy Quỳnh, địa chỉ: ấp L Thuận A, xã L Phước, huyện L H, tỉnh Vĩnh L để ở. Do muốn có tiền để sử dụng ma túy nên H1 mua ma túy về nhà trọ chia ra bán lại để có tiền sử dụng ma túy. H1 bắt đầu mua ma túy về bán lại từ tháng 12/2022. Hình thức bán ma túy là người mua ma túy trực tiếp gọi điện thoại và nhắn tin cho H1 vào số điện thoại 0786838386.

H1 mua ma túy loại Methamphetamine, Ketamine và MDMA của người nam không rõ nhân thân tại Cầu Kinh Cụt thuộc phường 1, thành phố Vĩnh L 02 lần với số tiền 5.900.000đ.

Những người mua ma túy của Nguyễn Tấn H1 gồm:

1/ Nguyễn Trung Q, sinh năm 1995. Nơi cư trú: 4/9 đường 8/3, khóm 4, phường 5, thành phố Vĩnh L, tỉnh Vĩnh L.

Vào ngày 16/12/2022 H1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 71C4-5382 (xe thuê của anh Phạm Thái Nam) đến cầu Kinh Cụt thuộc phường 1, thành phố Vĩnh L gặp người nam (không rõ nhân thân) mua 200.000đ ma túy để sử dụng, lúc này người bán ma túy cho H1 thuê H1 đi bán ma túy cho người này và sẽ trả tiền công cho H1, địa điểm giao ma túy gần đền thờ Phạm Hùng thuộc ấp L Thuận A, xã L Phước, huyện L H. H1 đồng ý và đã đến địa điểm trên giao 01 bịch ma túy loại Ketamine cho Nguyễn Trung Q với số tiền 3.000.000đ. Khi giao ma túy cho Q thì H1 có cho Q số điện thoại của H1 để khi Q cần ma túy thì điện thoại cho H1.

Đến ngày 17/12/2022, Q sử dụng số điện thoại của Q 0392533034 điện thoại vào số điện thoại của H1 0786838386 để mua 03 viên ma túy tổng hợp (MDMA), 01 bịch ketmine. H1 đồng ý, sau đó đó H1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 71C4-52382 đến cầu Kinh Cụt thuộc phường 1, thành phố Vĩnh L để mua 3.900.000đ ma túy, nhận ma túy xong H1 điều khiển xe đến cây xăng số 8 thuộc ấp Tân An, xã Tân Hạnh, huyện L H giao ma túy cho Q và nhận số tiền 4.000.000đ.

2/ Trương Tuyết Nhi, sinh năm 1998. Nơi cư trú: ấp Minh Thượng A, xã Vĩnh Thuận, huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.

Vào ngày 20/3/2023 Nhi sử dụng số điện thoại của Nhi 0389236604 nhắn tin vào số điện thoại của H1 mua ma túy loại Ketamine. H1 đồng ý về phòng trọ lấy ma túy (H1 mua 2.000.000đ vào ngày 16/02/2023) đem đến gần tiệm massage Quê Hương thuộc đường Phạm Thái Bường, phường 4, thành phố Vĩnh L giao cho người nam chạy xe honda khách (không rõ nhân thân) do Nhi thuê và H1 nhận số tiền 3.100.000đ.

Sau khi giao ma túy xong H1 về phòng trọ và chuẩn bị đi uống cà phê thì H1 có đem theo 01 bịch ma túy nếu có ai mua sẽ bán. Khi H1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 71C4-5382 trên đường thuộc ấp L Thuận A, xã L Phước, lúc này khoảng 09 giờ 45 phút thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L H phối hợp Công an xã L Phước yêu cầu dừng xe kiểm tra phát hiện 01 bịch nylon bên trong chứa tinh thể màu trắng được giấu trong mảnh giấy màu trắng để trên xe được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 01.

Sau khi bị bắt, H1 tự nguyện giao nộp ma túy và các tang vật liên quan đang cất giấu tại phòng trọ gồm: 01 hộp nhựa bên trong có 01 bịch nylon chứa tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 02. 01 giỏ sọc caro bên trong chứa: (01 bịch nylon viền đỏ chứa 09 viên nén màu đen được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 03, 01 bịch nylon viền xanh chứa tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 04, 01 bịch nylon viền xanh chứa tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 05). 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy. 03 cây kéo bằng kim loại màu trắng. 02 cân điện tử màu đen. 01 bịch nylon màu đen bên trong chứa 03 ống thủy tinh và 50 bịch nylon viền màu xanh bên trong rỗng cùng số tiền 3.800.000đ và 01 xe mô tô biển kiểm soát 71C4-5382.

Kết luận giám định số 112/KL-KTHS, ngày 24/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh L kết luận:

+ Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 03 bịch nylon được niêm phong trong phong bì (số 01, 02, 04 gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng 1,959 gam loại Methamphetamine.

+ Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 01 bịch nylon được niêm phong trong phong bì số 05 gửi giám định là ma túy có khối lượng 1,8081 gam loại Ketamine.

+ Mẫu 09 viên nén màu đen được niêm phong trong phong bì số 03 gửi giám định là ma túy có khối lượng 3,3444 gam loại MDMA.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L H đã trả xe môtô biển kiểm soát 71C4-5382 cho chủ sở hữu là anh Phạm Thái Nam.

Hành vi của người nam thanh niên (không rõ nhân thân) bán ma túy cho H1. Hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L H phối hợp với Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Vĩnh L xác minh làm rõ. Khi nào làm rõ có căn cứ sẽ xử lý sau.

Tại bản Cáo trạng số: 71/CT-VKSLH, ngày 03 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện L H truy tố bị cáo Nguyễn Tấn H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Ý kiến kiểm sát viên tại tòa: Bảo lưu quan điểm bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện L H và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị: áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn H1 từ 7 năm 06 tháng đến 8 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu huỷ bỏ 05 phong bì niêm phong số 112/01, 112/02, 112/03, 112/4. 112/5 cùng ngày 24/02/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh L bên trong chứa vỏ bao gói và khối lượng ma túy còn lại sau giám định. Một bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 03 cây kéo bằng kim loại màu trắng; 01 hộp nhựa màu trắng; 01 mảnh giấy màu trắng; 02 cân điện tử màu đen; 01 cái giỏ sọc caro xanh đen; 01 bịch nylon màu đen chứa 03 ống tủy tinh và 50 bịch nylon bên trong rỗng viền màu xanh.

-Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A02S màu xanh số IMEI khe 1: 352845148415088, IMEI khe 2: 353051568415083. 01 sim điện thoại có số seri 8401210833247858. Số tiền tạm giữ của bị cáo 3.800.000đ, bị cáo khai nhận bán chất ma tuý thu lợi 1.200.000đ nên phải buộc bị cáo giao nộp để sung quỹ nhà nước; số tiền còn lại 2.600.000đ giao trả lại cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo không có nghề nghiệp.

Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 buộc bị cáo nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Ý kiến bị cáo tại tòa: Bị cáo bị nghiện ma tuý. Bị cáo xin việc làm không ai nhận nên bị cáo bán chất ma tuý để có lợi nhuận phục vụ cho việc sử dụng chất ma tuý. Bị cáo đã bán cho Trung Q và Yến Nhi thu lợi được 1.200.000đ. Bị cáo biết việc làm của bị cáo vi phạm pháp luật. Bị cáo không có khiếu nại trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Bị cáo có chứng kiến việc cân chất ma tuý của cơ quan công an. Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay là do bị cáo tự nguyện khai nhận.

Lời sau cùng của bị cáo: Qua thời gian bị giam giữ bị cáo đã biết sai, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong H sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Tất cả các quyết định, hành vi tố tụng, thủ tục từ giai đoạn phát hiện tội phạm đến truy tố bị cáo. Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự. Không có khiếu nại từ người tham gia tố tụng.

[2] Về nội dung:

[2.1] Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng là những người đã mua chất ma túy của bị cáo. Đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Tấn H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo Lộc có khối lượng 1,959 gam loại Methamphetamine, 1,8081 gam loại Ketamine, 3,3444 gam loại MDMA. Bị cáo đã bán cho 02 đối tượng Q một lần và Nhi một lần là trường hợp phạm tội 02 lần trở lên. Do đó, Cáo trạng số 71/CT.VKSLH ngày 03/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện L H đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

[2.2] Ma túy là loại chất do nhà nước độc quyền quản lý, mọi hành vi tàng trữ, mua bán, sử dụng,… trái phép đều vi phạm pháp luật; Là loại chất có ảnh hưởng rất xấu đến đời sống xã hội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm. Bị cáo thừa nhận hành vi mua bán phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nH1 bị cáo vẫn thực hiện, cho thấy bị cáo có thái độ xem thường pháp luật. Việc làm của bị cáo là tiếp tay cho loại tội phạm nguy hiểm, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống bình thường của con người. Do đó, việc xử lý bị cáo nghiêm minh bị cáo là cần thiết để trấn áp loại tội phạm về ma túy và nhằm cải tạo giáo dục đối với bị cáo.

[2.3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[2.4] Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã thật thà khai nhận thể hiện được sự ăn năng hối cãi. Đây là tình tiết giảm nhẹ Hội đồng xét xử có xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo.

[2.5] Về xử lý vật chứng: Số ma tuý còn lại sau giám định và các vật dụng liên quan đến việc mua bán, sử dụng chất ma tuý giá trị không đáng kể nên phải bị tịch thu huỷ bỏ. Số tiền 3.800.000đ của bị cáo sẽ bị tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án. Chiếc điện thoại của bị cáo bị tạm giữ là phương tiện để thực hiện việc mua bán mua tuý nên phải bị tịch thu sung quỹ. Khoản tiền thu lợi bất chính của bị cáo 1.200.000đ, bị cáo phải có nghĩa vụ giao nộp lại để sung quỹ.

[2.6] Hình phạt bổ sung: Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo nhằm mục đích vụ lợi nên phải áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

[2.7] Quan điểm của kiểm sát viên tại tòa được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.

[2.8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất Ma túy”

Căn cứ điểm b, p khoản 2, Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn H1 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/02/2023.

2. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, phạt bổ sung bị cáo 5.000.000đ(Năm triệu đồng) sung quỹ nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu huỷ bỏ 05 phong bì niêm phong số 112/01, 112/02, 112/03, 112/4. 112/5 cùng ngày 24/02/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh L bên trong chứa vỏ bao gói và khối lượng ma túy còn lại sau giám định. Một bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 03 cây kéo bằng kim loại màu trắng; 01 hộp nhựa màu trắng; 01 mảnh giấy màu trắng; 02 cân điện tử màu đen; 01 cái giỏ sọc caro xanh đen; 01 bịch nylon màu đen chứa 03 ống tủy tinh và 50 bịch nylon bên trong rỗng viền màu xanh.

-Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A02 S màu xanh số IMEI khe 1: 352845148415088, IMEI khe 2: 353051568415083. 01 sim điện thoại có số seri 8401210833247858

Buộc bị cáo Nguyễn Tấn H1 giao nộp 1.200.000đ(Một triệu hai trăm ngàn đồng) tiền thu lợi từ việc bán ma túy để sung quỹ nhà nước.

Tiếp tục tạm giữ số tiền: 3.800.000đ(Ba triệu tám trăm ngàn đồng) của bị cáo Nguyễn Tấn H1 để đảm bảo cho việc thi hành án.

Tiền và vật chứng của vụ án Chi cục thi hành án dân sự huyện L H đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/7/2023 giữa cơ quan cảnh sát điều tra và chi cục thi hành án dân sự huyện L H.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Q Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Tấn H1 nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ