- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Trần Thị Huỳnh Liên và anh Nguyễn Nhật Toàn"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận T bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Huỳnh L, cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2023/HNGĐ-ST Ngày: 25/7/2023 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU - TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Loan Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Kiên và bà Ngô Thị Thao.
Thư ký phiên tòa: Ông Thủy Sơn Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 354/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Huỳnh L, sinh năm 1993; Địa chỉ: Tổ 06, phường Y, thành phố P, tỉnh G. Có mặt
- Bị đơn: Anh Nguyễn Nhật T, sinh năm 1994; Địa chỉ: 2/29 đường T, phường H, thành phố P, tỉnh G. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị Huỳnh L trình bày: Chị và anh Nguyễn Nhật T tự nguyện tìm hiểu có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Phù Đổng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai vào ngày 11/4/2017. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau. Chị và anh T đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Nay chị không còn tình cảm với anh T nữa nên chị yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Pleiku giải quyết :
Về quan hệ hôn nhân: Xin ly hôn với anh Nguyễn Nhật T.
Về nuôi con chung: Chị và anh T có 01 con chung là cháu Nguyễn Khôi N, sinh ngày 07/11/2017. Sau khi ly hôn nguyện vọng của chị là được trực tiếp nuôi cháu Nguyên và yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, mỗi tháng 3.000.000 đồng. Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Nhật T trình bày: Anh và chị Trần Thị Huỳnh L tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn như chị L trình bày. Trong quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau. Anh và chị L sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Nay chị L yêu cầu ly hôn thì anh không đồng ý vì lý do anh theo đạo Thiên chúa giáo nên không được phép ly hôn.
Về con chung: Anh và chị L có 01 con chung là cháu Nguyễn Khôi N, sinh ngày 07/11/2017. Trường hợp vợ chồng ly hôn, anh đồng ý giao cho chị L được trực tiếp nuôi cháu Nguyên và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, mỗi tháng 3.000.000 đồng.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Nguyên đơn chị Trần Thị Huỳnh L yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Nhật T, sinh năm 1994; Địa chỉ: 2/29 Trường Chinh, phường Phù Đổng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì đây là vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Huỳnh L và anh Nguyễn Nhật T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống chị L và anh T có phát sinh mâu thuẫn nên chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh T. Anh T cũng thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng nhưng không đồng ý ly hôn vì anh theo đạo thiên chúa giáo nên không được phép ly hôn. Chị L và anh T đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy chị L và anh T không ai còn quan tâm lo lắng, chăm sóc cho nhau, tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh T như vậy là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Huỳnh L và anh Nguyễn Nhật T.
Về việc nuôi con: Chị L và anh T có một con chung là Nguyễn Khôi N, sinh ngày 07/11/2017. Xét chị L đang trong độ tuổi lao động, có nghề ổn định, có sức khỏe, đủ điều kiện để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cháu Nguyên hiện còn nhỏ cần chăm sóc của chị L. Mặt khác anh T trình bày trường hợp vợ chồng ly hôn thì đồng ý giao con cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, mỗi tháng 3.000.000 đồng. Do vậy, cần giao cho chị L trực tiếp nuôi con là cháu Nguyễn Khôi N, sinh ngày 07/11/2017 cho đến khi cháu Nguyên đủ 18 tuổi và tự lập được là phù hợp.
Anh T phải cấp dưỡng nuôi cháu Nguyên hàng tháng, mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi cháu Nguyên đủ 18 tuổi và tự lập được.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị L và anh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn và bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 55, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận T bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Huỳnh L, cụ thể như sau:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Thị Huỳnh L ly hôn với anh Nguyễn Nhật T.
2. Về việc nuôi con: Giao cháu Nguyễn Khôi N, sinh ngày 07/11/2017 cho chị Trần Thị Huỳnh L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho cho đến khi con thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó
Trên cơ sở lợi ích của con, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Nhật T phải cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Khôi N, sinh ngày 07/11/2017 hàng tháng, mỗi tháng 3.000.000 đồng. Thời gian bắt đầu cấp dưỡng từ tháng 7 năm 2023 cho đến khi cháu Nguyên đủ 18 tuổi và tự lập được.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí: Chị Trần Thị Huỳnh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002857 ngày 01 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, chị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Anh Nguyễn Nhật T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng.
Thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (25/7/2023), các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Thời hạn trên đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa được tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Gia Lai;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND thành phố Pleiku;
- Chi cục THADS thành phố Pleiku;
- UBND Phường Phù Đổng, TP Pleiku (GCNKH số 38, ngày 11/4/2017);
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, án văn.
Bùi Loan Phƣơng
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND thành phố Pleiku; - Chi cục THADS thành phố Pleiku; - UBND Phường Phù Đổng, TP Pleiku (GCNKH số 99, ngày 10/8/2013); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Loan Phƣơng |