vanban.org

Bản án 69/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Tú N.

Chấp nhận cho bà Nguyễn Tú N được ly hôn với ông Vũ Ất Anh P. Quan hệ hôn nhân chấm dứt và giấy chứng nhận kết hôn số 181/2018 ngày 06/9/2018 do Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp cho bà Nguyễn Tú N và ông Vũ Ất Anh P không còn giá trị pháp lý, kể từ ngày bản án, quyết … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Tú N.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 26 – 5 - 2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Sương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Xuân Tùng

2. Bà Trần Thị Kim Tân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 775/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28/4/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Tú N, sinh năm: 1999 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Ông Vũ Ất Anh P, sinh năm: 1995. (Vắng mặt)

ĐKTT: 11/15/5, Khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Tú N trình bày: bà và ông Vũ Ất Anh P tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Quá trình chung sống ông bà không có hạnh phúc, mà thường nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp; vợ chồng thường gây gổ, cãi vã; ông P không quan tâm, hỗ trợ bà trong việc chăm sóc con cái, không tu chí làm ăn xây dựng gia đình. Bà đã khuyên giải nhiều lần nhưng ông P không thay đổi dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Từ năm 2020 đến nay, ông bà không còn chung sống với nhau, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm, chăm sóc đến ai. Nay bà không còn tình cảm gì với ông P nên yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên Vũ Ngọc Tú N1, sinh ngày 12/9/2018. Từ khi ly thân, cháu ở với bà N; nay bà N yêu cầu tiếp tục được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N1.

Về cấp dưỡng nuôi con: tại đơn khởi kiện bà có yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000đồng; tuy nhiên, nay bà có đủ điều kiện để nuôi con nên bà không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Vũ Ất Anh P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án nhưng ông P vẫn vắng mặt không có lý do; Ông P cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà N.

* Ý kiến của kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, Hội đồng xét xử,

Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, còn bị đơn không chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Nguyễn Tú N được ly hôn với ông Vũ Ất Anh P; giao cháu Vũ Ngọc T Như cho bà N nuôi dưỡng. Tạm miễn cấp dưỡng nuôi con chung cho ông P. Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Tú N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông Vũ Ất Anh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa là phù hợp.[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Vũ Ất Anh P và bà Nguyễn Tú N tự nguyện kết hôn vào ngày 06/9/2018, đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, ông bà thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định, nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp.

Xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy: Bà N cho rằng sau khi kết hôn, ông bà chung sống không có hạnh phúc, mà thường nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp; ông P không quan tâm, hỗ trợ bà trong việc chăm sóc con cái, không tu chí làm ăn xây dựng gia đình dẫn đến vợ chồng cãi vã, xích mích. Bà đã khuyên giải nhiều lần nhưng ông P không thay đổi dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Từ năm 2020 đến nay, ông bà không còn chung sống với nhau, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm, chăm sóc đến ai. Nay bà không còn tình cảm gì với ông P nên yêu cầu được ly hôn. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần triệu tập ông P để làm việc, nhưng ông P đều vắng mặt không lý do. Qua đó, cho thấy ông P bỏ mặc, thờ ơ trong quan hệ hôn nhân với bà N.

Theo kết quả xác minh tại địa phương thể hiện: Ông Vũ Ất Anh P đang sinh sống tại ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Hiện nay bà N và ông P không còn chung sống với nhau, nguyên nhân mâu thuẫn thì ban ấp không nắm được vì ông bà không trình báo địa phương. Như vậy, lời khai của bà N về việc vợ chồng có mâu thuẫn dẫn đến ly thân là có cơ sở.

Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; có nghĩa vụ sống chung với nhau. Như vậy, bà N và ông P đã không thực hiện quyền, nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Bà N yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Vũ Ngọc Tú N1, sinh ngày 12/9/2018. Xét thấy, cháu N1 còn nhỏ, từ trước đến nay sống với mẹ, do mẹ chăm sóc. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung nên giao cháu N1 cho bà N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà N không yêu cầu giải quyết, ông P không có ý kiến về cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Tài sản chung, nợ chung: Bà N trình bày không có tài sản chung, nợ chung; ông P không có lời khai, không có văn bản yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Án phí: Bà N phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35; Điều 39, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 8, 9, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Tú N.

1. Chấp nhận cho bà Nguyễn Tú N được ly hôn với ông Vũ Ất Anh P.

Quan hệ hôn nhân chấm dứt và giấy chứng nhận kết hôn số 181/2018 ngày 06/9/2018 do Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp cho bà Nguyễn Tú N và ông Vũ Ất Anh P không còn giá trị pháp lý, kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao cháu Vũ Ngọc Tú N1, sinh ngày 12/9/2018 cho bà Nguyễn Tú N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Ông Vũ Ất Anh P được quyền thăm nom con chung, nhưng không được gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người trực tiếp nuôi con.

Khi có lý do chính đáng, bà Nguyễn Tú N và ông Vũ Ất Anh P có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung vẫn được pháp luật bảo vệ.

3. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Tú N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn. Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0007088 ngày 08 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc được chuyển thành án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định.

Cỡ chữ