- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Diễm Thúy ly hôn với Tô Văn Khanh"
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Số: 69/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12 - 12 - 2023. “Về tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN – TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Chau Rot Tha;
2. Bà Lê Huỳnh Ngọc Lý.
- Thư ký phiên tòa: Ông Chau Chanh Đô Ra - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa: Ông Chau Pholy – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 234/2023/TLST-HNGĐ, ngày 19 tháng 10 năm 2023 về: “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Diễm T, sinh năm: 1983; địa chỉ cư trú: Tổ B, ấp T, xã C, huyện T, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Ông Tô Văn K, sinh năm: 1980; cùng địa chỉ cư trú: Tổ B, ấp T, xã C, huyện T, tỉnh An Giang.
(Tại phiên tòa, bà T có mặt; ông K vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 02/10/2023 với các tài liệu kèm theo cũng như quá trình tố tụng tại tòa, bà Nguyễn Thị Diễm T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà với ông K được hình thành là do tự tìm hiểu, cha mẹ đứng ra tổ chức đám cưới cho hai người vào tháng 4/2007, hôn nhân có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, ngày 13/01/2011. Cuộc sống chung hạnh phúc được đến tháng 7/2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông K khi có công việc làm thì chỉ biết ăn nhậu, không quan tâm đến gia đình vợ, con. Mỗi khi nhậu thì kiếm chuyện chữi bới với những lời lẽ thô tục, đập phá đồ đạc trong nhà, bà khuyên thì ông không nghe rồi gây cải nhau, cứ thế diễn ra nhiều lần nên bà không thể chịu đựng được nữa nên ly thân nhau từ năm 2017 đến nay. Trong thời gian ly thân gia đình có đứng ra hàn gắn nhưng không thành. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà xin ly hôn với ông K.
Về quan hệ con chung: Bà với ông K có 02 con chung: 1/ Tô Nguyễn Phúc M, sinh ngày 05/01/2011; 2/ Tô Nguyễn Việt H, sinh ngày: 16/9/2014, hiện do bà nuôi. Khi ly hôn, bà yêu cầu tiếp tục nuôi, bà yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng/01 cháu đến khi mỗi cháu đủ 18 tuổi.
Về quan hệ tài sản chung: Bà với ông K không có tài sản chung.
Về quan hệ nợ chung: Bà với ông K không có nợ chung.
Tòa án đã thông báo hợp lệ cho ông Tô Văn K để tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông vẫn vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa, bà T rút lại yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi con, bảo lưu ý kiến xin ly hôn và yêu cầu nuôi 02 con chung. Riêng ông K đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng ông vẫn vắng mặt.
Quan điểm của Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết đúng theo trình tự thủ tục, xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền xét xử. Trong quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX) đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự trong vụ án cũng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung: Bà T – ông K chung sống có đăng ký kết hôn, nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống ông K không quan tâm đến gia đình vợ, con, chữi bới, đập phá đồ đạc trong nhà và ly thân nhau từ hơn 05 năm, nên ông T1 xin ly hôn là có căn cứ. Về con chung: Tô Nguyễn Phúc M, Tô Nguyễn Việt H, đã trên 07 tuổi với ý nguyện tiếp tục chung sống với mẹ, đề nghị HĐXX chấp nhận; về tài sản chung, nợ chung không xem xét. Từ phân tích trên đề nghị HĐXX quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của Kiểm sát viên. HĐXX nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Bà T khởi kiện ly hôn với ông K là thuộc thẩm quyền của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; ông K có địa chỉ cư trú tại xã C, huyện T, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền. Ông K được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, nên HĐXX xét xử vắng mặt theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Bà T – ông K kết hôn và chung sống với nhau vào năm 2007, hôn nhân có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn trễ hạn số 07 ngày 13/01/2011, nên xem là hôn nhân hợp pháp.
Tại phiên tòa, bà T bảo lưu ý kiến của mình, thể hiện do ông K mỗi khi nhậu thì kiếm chuyện chữi bới với những lời lẽ thô tục, đập phá đồ đạc trong nhà, bà khuyên thì ông không nghe rồi gây cải nhau, cứ thế diễn ra nhiều lần nên bà không thể chịu đựng được nữa rồi ly thân nhau.
Qua trình bày của bà T, mặc dù ông K vắng mặt, nhưng tại các biên bản xác minh vào ngày 27/10/2023 của Tòa án thể hiện: Hôn nhân giữa bà T – ông K đã thật sự mâu thuẫn, bởi do ông K ăn nhận và dùng những lời lẽ thô tục xúc phạm gia đình bà T, không chỉ xảy 01 lần mà nhiều lần, lại còn đe dọa tính mạng bà T, nên bà T bỏ nhà và ly thân, gia đình hàn gắn nhưng không thành…
Với chứng cứ thu thập vừa nêu, xét trình bày của bà T là có cơ sở, mâu thuẫn giữa bà T – ông K đã thật sự trầm trọng; đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, HĐXX nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.
. Về quan hệ con chung: Xét thấy 02 cháu: Tô Nguyễn Phúc M1, Tô Nguyễn Việt H, từ trước nay là do bà T nuôi, tình cám giữa 02 cháu với và T đã thật sự gắn bó; ý nguyện của 02 cháu khi cha mẹ ly hôn xin được tiếp tục sống với mẹ. Để không xáo trộn về tâm sinh lý của 02 cháu cũng như tạo điều kiện cho 02 cháu phát triển tốt về sau, HĐXX nghĩ nên chấp nhận giao 02 cháu M1, H cho bà T tiếp tục nuôi là hoàn toàn phù hợp.
HĐXX cũng giải thích cho bà T biết: Trong thời gian nuôi con, bà T cùng người thân trong gia đình không được cản trở ông K trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng tại phiên tòa bà T rút lại yêu cầu này. Xét rút yêu cầu của bà T là tự nguyện nên HĐXX công nhận.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà T khai bà với ông K không có tài sản chung và không có nợ chung. Tuy nhiên do ông K vắng mặt, nên HĐXX không xem xét và không đề cặp ở phần quyết định. Nếu sau này ông K có chứng cứ khác chứng minh có tài san chung, có nợ chung và ông K có yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Diễm T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; các bên không phải chịu án phí nào khác.
Vì các lẽ trên;
QUY T ĐỊNH
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 144, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Diễm T.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Diễm T được ly hôn với ông Tô Văn K.
Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị Diễm T được tiếp tục nuôi 02 con chung: 1/ Tô Nguyễn Phúc M1, sinh ngày 05/01/2011; 2/ Tô Nguyễn Việt H, sinh ngày: 16/9/2014.
Đình chỉ giải quyết yêu cầu của bà T về yêu cầu ông Tô Văn K phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 1.000.00 đồng/01 cháu.
Bà T cùng người thân trong gia đình không được cản trở ông KhánhUnHU2ng trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Diễm T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được chuyển từ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0010237 ngày 03/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn (bà T nộp đủ).
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/12/2023), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự).
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAT; - VKS huyện; - THADS để thi hành. - UBND thị trấn Tri Tôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Vp. | Lê Văn Huệ |