- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn, giữa chị Lò Thị Thu H + anh Lò Văn D"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị Thu H được ly hôn với anh Lò Văn D.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2023/HNGĐ-ST Ngày: 31 - 8 - 2023 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Lường Thị Hương;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Ngọc Thiệp;
Bà Thào Thị Chứ;
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Phượng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Bạc Thị Thoản- Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 168/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2023/QĐST- HNGĐ, ngày 03 tháng 8 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 78/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 18 tháng 8 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 79/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 24 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lò Thị Thu H; Địa chỉ: Bản P, xã BL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. (Vắng mặt).
Bị đơn: Anh Lò Văn D; Địa chỉ: Bản P, xã BL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 22/5/2023, Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai, nguyên đơn chị Lò Thị Thu H trình bày:
Về tình cảm: Chị Lò Thị Thu H và anh Lò Văn D kết hôn với nhau từ ngày 16/10/2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã BL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hoà hợp, bất đồng trong quan điểm sống, thường xuyên cãi vã lẫn nhau, anh Lò Văn D có đánh đập chị Lò Thị Thu H. Chị Lò Thị Thu H và anh Lò Văn D đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng không thành, hiện nay chị Lò Thị Thu H và anh Lò Văn D đã sống ly thân, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của ai. Chị Lò Thị Thu H xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị Lò Thị Thu H yêu cầu được ly hôn với anh Lò Văn D.
Về con chung: Chị Lò Thị Thu H và anh Lò Văn D có 02 con chung: Cháu Lò Thị Ngọc U, sinh ngày 12/01/2016, cháu Lò Minh Q, sinh ngày 12/01/2018. Nay ly hôn chị Lò Thị Thu H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lò Thị Ngọc U và tự nguyện giao cháu Lò Minh Q cho anh Lò Văn D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lò Thị Thu H không yêu cầu anh Lò Văn D phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung vợ chồng: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Cam đoan không có.
Tại Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai bổ sung tại Toà án anh Lò Văn D trình bày:
Về tình cảm: Anh Lò Văn D thừa nhận: Anh Lò Văn D và chị Lò Thị Thu H kết hôn với nhau từ ngày 16/10/2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã BL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Anh Lò Văn D thừa nhận vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nhỏ nhưng không đáng kể, chị Lò Thị Thu H đã bỏ về sống với bố mẹ đẻ từ năm 2021 đến nay, không ai còn quan tâm đến ai. Anh Lò Văn D không nhất trí ly hôn với chị Lò Thị Thu H
Con chung: Anh Lò Văn D thừa nhận: Anh Lò Văn D và chị Lò Thị Thu H có hai cong chung: Cháu Lò Thị Ngọc U, sinh ngày 12/01/2016, cháu Lò Minh Q, sinh ngày 12/01/2018. Nay ly hôn anh Lò Văn D yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu đến khi các cháu trưởng thành.
Về cấp dưỡng: Yêu cầu chị Lò Thị Thu H phải cấp dưỡng nuôi cháu Lò Thị Ngọc U mỗi tháng 800.000 đồng đến khi cháu trưởng thành và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi cháu Lò Minh Quân.
Về tài sản chung vợ chồng: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Cam đoan không có.
Biên bản xác minh ngày 09/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La về tình trạng hôn nhân của chị Lò Thị Thu H và anh Lò Văn D: Chị Lò Thị Thu H và anh Lò Văn D đăng ký kết hôn với nhau từ ngày 16/10/2017, tại UBND xã BL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Quá trình chung sống nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính quyền không rõ. Hiện nay chị Lò Thị Thu H và anh Lò Văn D đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay.
Biên bản xác minh ngày 09/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La về điều kiện kinh tế của anh Lò Văn D, chị Lò Thị Thị Hiền: Anh Lò Văn D, chị Lò Thị Thu H đều có hộ khẩu tai Bản P, xã BL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Anh chị hiện nay đều sống với bố mẹ đẻ và thu nhập chủ yếu từ chăn nuôi, trồng trọt, ngoài ra không có nguồn thu nhập nào khác. Hiện nay hộ gia đình anh Lò Văn D thuộc diện hộ nghèo của xã BL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Chị Lò Thị Thu H không thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo của xã.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ: Nguyên đơn chị Lò Thị Thu H, anh Lò Văn D nhất trí không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm, không yêu cầu Toà án triệu tập đương sự khác và người tham gia tố tụng khác.
Tại phiên hoà giải: Chị Lò Thị Thu H, anh Lò Văn D thống nhất được về quá trình đăng ký kết hôn, về con chung, có hai con chung cháu Lò Thị Ngọc U và cháu Lò Minh Q; tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết, nợ chung: Cam đoan không có. Không thống nhất được: Chị Lò Thị Thu H đề nghị được ly hôn, anh Lò Văn D không nhất trí; về con chung: Chị Lò Thị Thi Hiền yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lò Thị Ngọc U và tự nguyện giao cháu Lò Minh Q cho anh Lò Văn D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Lò Văn D không nhất trí ly hôn, đề nghị được nuôi cả hai cháu Lò Thị Ngọc U, cháu Lò Minh Q, yêu cầu chị Lò Thị Thu H phải cấp dưỡng nuôi con chung Lò Thị Ngọc U mỗi tháng 800.000 đồng đến khi cháu trưởng thành.
Đơn xin xét xử vắng mặt ngày 24/8/2023 nguyên đơn chị Lò Thị Thu H trình bày do bận công việc, nên không thể có mặt để tham dự phiên toà, chị Lò Thị Thu H đề nghị xét xử vắng mặt. Ý kiến của chị Lò Thị Thu H về việc giải quyết vụ án: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Về tình cảm: Yêu cầu được ly hôn với anh Lò Văn D; về con chung: có 02 con chung: Cháu Lò Minh Q, sinh ngày 12/01/2018; cháu Lò Thị Ngọc U sinh ngày 12/01/2016. Nay ly hôn chị Lò Thị Thu H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lò Thị Ngọc U, và tự nguyện để cháu cháu Lò Minh Q cho anh Lò Văn D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu trưởng thành. Chị Lò Thị Thu H và anh Lò Văn D không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết; về nợ chung: Cam đoan không có.
Toà án đã tiến hành triệu tập hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và các Quyết định hoãn phiên toà cho anh Lò Văn D. Tuy nhiên anh Lò Văn D không có mặt.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Đúng quy định của pháp luật.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Lò Thị Thu H đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lò Văn D đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Lò Thị Thu H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Lò Văn D đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn cố tình vắng mặt. Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ.
- Về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 227, 228 BLTTDS năm 2015; Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho Lò Thị Thu H được ly hôn với anh Lò Văn D.
Về con chung: Giao cháu Lò Thị Ngọc U, sinh ngày 12/01/2016 cho chị Lò Thị Thu H trực tiếp chăm sóc, nuôi dương, giáo dục và giao cháu Lò Minh Q, sinh ngày 12/01/2018 cho Lò Văn D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lò Thị Thu H, anh Lò Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung: Không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Nguyên đơn chị Lò Thị Thu H khởi kiện ly hôn với bị đơn anh Lò Văn D có địa chỉ tại Bản P, xã BL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Lò Thị Thu H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Lò Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, anh Lò Văn D vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Lò Thị Thu H, bị đơn anh Lò Văn D.
. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Lò Thị Thu H và anh Lò Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại tại UBND xã BL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La vào ngày 16/10/2017, đúng theo quy định của pháp luật, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Nguyên nhân mâu thuẫn, chị Lò Thị Thu H xác định do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, anh Lò Văn D có đánh đập chị Lò Thị Thu H, mục đích hôn nhân không đạt được, đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của ai. Chị Lò Thị Thu H yêu cầu được ly hôn với anh Lò Văn D. Anh Lò Văn D thừa nhận vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nhưng làm mâu thuẫn nhỏ, thừ nhận chị Lò Thị Thu H đã bỏ về bố mẹ đẻ sinh sống từ năm 2021 đến nay không ai còn quan tâm đến cuộc sống của ai. Tuy nhiên anh Lò Văn D không nhất trí ly hôn với chị Lò Thị Thu H. HĐXX xét thấy: Căn cứ vào các chứng cứ, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản xác minh, tại phiên hòa giải cho thấy cuộc sống chung vợ chồng của chị Lò Thị Thu H, anh Lò Văn D không hạnh phúc, mâu thuẫn kéo dài không thể hàn gắn, Anh Lò Văn D có đánh đập chị Lò Thị Thu H, chị Lò Thị Thu H là nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn gia đình và đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay không ai còn quan tâm đến cuộc sống của ai. Nay xét thấy cuộc sống vợ chồng giữa chị Lò Thị Thu H và anh Lò Văn D tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị Lò Thị Thu H: Xử cho chị Lò Thị Thu H được ly hôn với anh Lò Văn D. Căn cứ vào Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về con chung:
Chị Lò Thị Thu H và anh Lò Văn D có 02 con chung: Cháu Lò Thị Ngọc U, sinh ngày 12/01/2016, cháu Lò Minh Q, sinh ngày 12/01/2018. Nay ly hôn chị Lò Thị Thu H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lò Thị Ngọc U và tự nguyện để cháu Lò Minh Q cho anh Lò Văn D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục đến khi các cháu trưởng thành. Anh Lò Văn D đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai cháu. HĐXX xét thấy: Chị Lò Thị Thu H và anh Lò Văn D đều có thu nhập từ nguồn lao động trồng trọt và chăm nuôi, cháu Lò Thị Ngọc U là con gái, cần có sự chăm sóc của mẹ hơn, nên việc chị Lò Thị Thu H yêu cầu được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Lò Thị Ngọc U và tự nguyện giao cháu Đèo Mạnh Tùng cho anh Lò Văn D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là có căn cứ, việc anh Lò Văn D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung là không đảm bảo bới hộ gia đình anh Lò Văn D là hộ nghèo của xã, nguồn thu nhập chủ yếu từ trồng trọt, ngoài ra không có nguồn thu nhập nào khác. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên, xét nguyện vọng của con chưa thành niên. Do vậy cần giao cháu Thị Ngọc Uyên cho chị Lò Thị Thu H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao cháu Lò Minh Q cho anh Lò Văn D được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành. Chị Lò Thị Thu H, anh Lò Văn D không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
. Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
. Về nợ chung: Cam đoan không có.
. Về án phí: Chị Lò Thị Thu H là dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, chị Lò Thị Thu H có đơn đề nghị miễn nộp tiền án phí Dân sự sơ thẩm. Miễn toàn bộ án phí dân sư sơ thẩm cho chị Lò Thị Thu H
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4, điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273; Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị Thu H được ly hôn với anh Lò Văn D.
2. Về con chung: Chị Lò Thị Thu H và anh Lò Văn D có 02 con chung: Cháu Lò Thị Ngọc U, sinh ngày 12/01/2016, cháu Lò Minh Q, sinh ngày 12/01/2018.
Giao cháu Lò Thị Ngọc U, sinh ngày 12/01/2016 cho chị Lò Thị Thu H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Lò Minh Q, sinh ngày 12/01/2018 cho anh Lò Văn D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
3. Về cấp dưỡng: Chị Lò Thị Thu H và anh Lò Văn D không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
4. Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
5. Về nợ chung: Không có.
6. Về án phí: Miễn nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lò Thị Thu H. Chị Lò Thị Thu H được hoàn lại số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La theo biên lai thu số: AA/2021/0003288, ngày 24/5/2023.
7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Lò Thị Thu H; bị đơn anh Lò Văn D được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND h.Thuận Châu ( 2 bản ); - UBND xã BL, h.Thuận Châu, - Chi cục THADS huyện Thuận Châu; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Thị Hương |