vanban.org

Bản án 69/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ngô Thị V. Bà Ngô Thị V được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Quang H, sinh ngày 03/9/2006 cho bà V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận bà V không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung. Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được quyền cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Ngô Thị V yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Văn H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ngô Thị V. Bà Ngô Thị V được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 15-8-2023
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm My

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lan;

Bà Lý Thị Mỹ Diệu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 106/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Ngô Thị V, sinh năm 1970. Địa chỉ: Tổ X, ấp Y, xã N, huyện C, tỉnh Tây Ninh. (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1969. Địa chỉ: Tổ X, ấp Y, xã N, huyện C, tỉnh Tây Ninh. (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 28/4/2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Ngô Thị V trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn H chung sống vợ chồng từ năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Suối Ngô, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh vào năm 2007. Vợ chồng chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do ông H thường nhậu nhẹt, kiếm chuyện vô cớ với bà V; đôi khi còn đánh đập, dùng hung khí rượt đuổi bà. Trước đây bà cố gắng nhẫn nhịn để vợ chồng có thể giữ gìn hạnh phúc gia đình nhưng nay không thể tiếp tục chịu đựng được nữa do ông H ngày càng đối xử tệ bạc với bà. Cuộc sống hôn nhân không thể duy trì được nữa nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H.

Về con chung: Bà Ngô Thị V và ông Nguyễn Văn H chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Quang H, sinh ngày 03/9/2006. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Ngô Thị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Nguyễn Văn H trình bày:

Bà Ngô Thị V trình bày về thời gian sống chung, đăng ký kết hôn, con chung, tài sản chung, nợ chung là đúng. Về mâu thuẫn vợ chồng theo ông vợ chồng chung sống hạnh phúc, thuận hòa; thỉnh thoảng có cãi vã, lục đục nhưng đó là chuyện vợ chồng cãi nhau bình thường. Bà V cho rằng ông thường xuyên uống rượu bia là không đúng, ông thỉnh thoảng có uống rượu một mình nhưng uống ít để ăn cơm. Cũng không có việc ông đánh bà V. Nay bà V yêu cầu ly hôn ông không đồng ý do vợ chồng mâu thuẫn chưa đến mức phải ly hôn.

Nếu Tòa án giải quyết cho ông và bà V ly hôn, về vấn đề con chung: nguyện vọng con theo ai thì người đó nuôi, người không trực tiếp nuôi con không cấp dưỡng nuôi con. Về chia tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thời hạn thụ lý, giải quyết vụ án; việc cấp tống đạt văn bản pháp luật và việc tuân thủ quy định pháp luật của người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ngô Thị V đối với ông Nguyễn Văn H.

Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Quang H cho bà V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận bà V không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận bà Ngô Thị V, ông Nguyễn Văn H không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Bà Ngô Thị V chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là bà Ngô Thị V; bị đơn là ông Nguyễn Văn H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà V và ông H.

Về hôn nhân: Bà Ngô Thị V và ông Nguyễn Văn H chung sống với nhau từ năm 2005, hôn nhân tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Suối Ngô, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh vào năm 2007, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của bà Ngô Thị V thấy rằng: Bà V yêu cầu ly hôn do vợ chồng chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông H thường xuyên uống rượu bia, kiếm chuyện gây gổ, đánh đập bà. Ông H không đồng ý ly hôn, thừa nhận vợ chồng có xích mích nhưng chưa đến mức phải ly hôn. Kết quả xác minh tại địa phương thể hiện: Giữa bà V, ông H có phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, bất hòa về vấn đề kinh tế, con cái. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa bà V và ông H đã lâm vào tình trạng trầm trọng dẫn đến vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được nên bà V yêu cầu ly hôn với ông H là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Bà Ngô Thị V và ông Nguyễn Văn H có 01 con chung tên Nguyễn Quang H, sinh ngày 03/9/2006. Bà V có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung. Ông H yêu cầu xem xét ý kiến con chung, con theo ai thì người đó nuôi. Tại biên bản lấy lời khai ngày 21 tháng 7 năm 2023, nguyện vọng của cháu Nguyễn Quang H là được sống cùng với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Do đó, giao con chung là cháu H cho bà V trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

Ghi nhận bà V không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, ông H có quyền đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà Ngô Thị V, ông Nguyễn Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí: Bà Ngô Thị V phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ngô Thị V. Bà Ngô Thị V được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Quang H, sinh ngày 03/9/2006 cho bà V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận bà V không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được quyền cản trở.

3. Về chia tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận bà Ngô Thị V, ông Nguyễn Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Bà Ngô Thị V phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng mà bà V đã nộp theo biên lai thu số 0008158 ngày 16 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận bà V đã nộp đủ án phí.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ