vanban.org

Bản án 69/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Hồng G và anh Nguyễn Văn T được ly hôn.

Về con chung: chị Nguyễn Thị Hồng G được quyền trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Ngọc Tường L, sinh ngày: 27/12/2009; Nguyễn Ngọc Trúc X, sinh ngày: 14/11/2013 và Nguyễn Ngọc Trúc N, sinh ngày: 26/4/2016; anh Nguyễn Văn T chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Hồng G và anh Nguyễn Văn T được ly hôn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHỤNG HIỆP
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 14/4/2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tiến Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Công Điện

2. Ông Nguyễn Văn Dương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang

Ngày 14 tháng 4 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 08/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2023, về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng G, sinh năm: 1992; Địa chỉ: ấp L, xã Tân L, huyện P, tỉnh H. (có mặt)

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 1983; Địa chỉ: ấp Thạnh L, xã Tân L, huyện P, tỉnh H. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn ngày 05/01/2023, các lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng G trình bày:

Chị G và anh Nguyễn Văn T làm lễ cưới và chung sống với nhau vào năm 2009, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn năm 2010. Vợ chồng chung sống đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị bất đồng nhiều quan điểm trong cuộc sống, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau, từ đó dẫn đến mất hạnh phúc gia đình, vợ chồng cũng đã chính thức ly thân từ tháng 9/2022, đến nay không hàn gắn đoàn tụ được.

Về con chung: có 03 con chung là Nguyễn Ngọc Tường L, sinh ngày: 27/12/2009; Nguyễn Ngọc Trúc X, sinh ngày: 14/11/2013 và Nguyễn Ngọc Trúc N, sinh ngày: 26/4/2016.

Về tài sản chung; Về nợ chung: Không yêu cầu.

Nay chị Nguyễn Thị Hồng Giao yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn T; Về con chung: chị G yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng Nguyễn Ngọc Tường L, sinh ngày: 27/12/2009; Nguyễn Ngọc Trúc X, sinh ngày: 14/11/2013 và Nguyễn Ngọc Trúc N, sinh ngày: 26/4/2016 đến khi trưởng thành (tròn 18 tuổi); không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vẫn vắng mặt không đến Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Hồng G và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào năm 2010 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không tin yêu nhau, không tôn trọng nhau, không thật sự quan tâm chăm sóc cho nhau, từ đó dẫn đến mất hạnh phúc và chính thức ly thân, trong suốt quá trình ly thân vợ chồng cũng không hàn gắn đoàn tụ được. Quá trình giải quyết vụ án anh T biết chị G xin ly hôn nhưng vẫn không đến Tòa án giải quyết. Từ đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị G là phù hợp.

Về con chung: các đương sự không có tranh chấp về việc nuôi con, cháu Nguyễn Ngọc Tường L, sinh ngày: 27/12/2009 và Nguyễn Ngọc Trúc X, sinh ngày: 14/11/2013 tại thời điểm xét xử đã trên 7 tuổi và có nguyện vọng được sống chung với mẹ là chị Nguyễn Thị Hồng G. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận để chị Nguyễn Thị Hồng G được quyền trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Ngọc Tường L, sinh ngày: 27/12/2009; Nguyễn Ngọc Trúc X, sinh ngày: 14/11/2013 và Nguyễn Ngọc Trúc N, sinh ngày: 26/4/2016; anh Nguyễn Văn T chưa phải cấp dưỡng nuôi con, do chị G không yêu cầu. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho anh T, không ai được cản trở.

Về tài sản chung; Về nợ chung: Đương sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Các Điều 35, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Hồng G và anh Nguyễn Văn T được ly hôn.

Về con chung: chị Nguyễn Thị Hồng G được quyền trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Ngọc Tường L, sinh ngày: 27/12/2009; Nguyễn Ngọc Trúc X, sinh ngày: 14/11/2013 và Nguyễn Ngọc Trúc N, sinh ngày: 26/4/2016; anh Nguyễn Văn T chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho anh T, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị Nguyễn Thị Hồng G và anh Nguyễn Minh T có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: chị Nguyễn Thị Hồng G phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000925 ngày 05/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang. Chị G đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ