- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn Út B được ly hôn với chị Hứa Thị Bé T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2023/HNGĐ-ST Ngày 04 – 7 – 2023 “V/v tranh chấp xin ly hôn, nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thị Gấm
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Mộng Lành và ông Phạm Đức Hoài
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Minh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2023/TLST-HNGD, ngày 10 tháng 01 năm 2023 về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 84/2023/QĐ-ST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Út B, sinh năm 1989;
Địa chỉ: Ấp K B, xã Đ Y, huyện A B, tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn: Chị Hứa Thị Bé T, sinh năm 1990;
Địa chỉ: Ấp K B, xã Đ Y, huyện A B, tỉnh Kiên Giang.
(Anh B có mặt tại phiên tòa; chị Bé T vắng mặt lần 02 không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án anh Nguyễn Văn Út B trình bày như sau:
Anh Út B và chị Bé T chung sống với nhau vào năm 2009, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương, đến ngày 22/3/2010 anh chị mới thực hiện việc đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã Đông Yên, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
Vợ chồng chung sống đến cuối năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuân là do vợ chồng thường xuyên cự cãi, bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến đời sống vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng đã hàn gắn nhưng không được, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng ly thân cuối năm 2017 đến nay.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Út B yêu cầu được ly hôn với chị Bé T.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Long N, sinh ngày 17/8/2010 và Nguyễn Thị Bách T, sinh ngày 11/3/2012, anh Út B yêu cầu được nuôi 02 con và không yêu cầu chị Bé T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra không trình bày và yêu cầu gì thêm.
Bị đơn chị Hứa Thị Bé T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên tòa đồng thời không gửi văn bản nêu ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa hôm nay: Anh Út B giữ nguyên yêu cầu, ý kiến như đã trình bày. Chị Bé T vắng mặt nên không ghi nhận ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đảm bảo đúng theo quy định, đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập lần 02 nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, xử cho anh Út B được ly hôn với chị Bé T; Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Long N, sinh ngày 17/8/2010 và Nguyễn Thị Bách T, sinh ngày 11/3/2012 (Theo nguyện vọng cháu N và cháu T) cho anh Út B tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận việc anh Út B không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Anh Út B không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Do bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn chị Bé T vắng mặt tại phiên tòa lần 02 không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất tiến hành xét xử vắng bị đơn.
Về nội dung vụ án: Anh Út B yêu cầu được ly hôn với chị Bé T và yêu cầu giải quyết vấn đề con chung nên quan hệ pháp luật của vụ án được xác định là “Ly hôn, nuôi con chung”.
Anh Út B kết hôn với chị Bé T trên cơ sở tự nguyện và đã thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đông Yên, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang ngày 22/3/2010, nên hôn nhân giữa anh, chị là hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng chị Bé T nhưng vẫn vắng mặt không lý do, không thể hiện hiện ý chí hàn gắn hôn nhân trước yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Út B, vợ chồng đã tự ly thân từ năm 2017 đến nay, không còn quan tâm chăm lo, giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa anh, chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của anh Út B được ly hôn với chị Bé T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung tên Nguyễn Long N, sinh ngày 17/8/2010 và Nguyễn Thị Bách T, sinh ngày 11/3/2012. Cháu N và cháu T có nguyện vọng được sống chung với cha là anh Út B. Anh Út B có yêu cầu nuôi dưỡng 02 người con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Nguyễn Long N và Nguyễn Thị Bách T cho anh Út B trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục. Chị Bé T không cấp dưỡng nuôi con do anh Út B không có yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Anh Út B xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Anh Út B có nghĩa vụ nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn Út B được ly hôn với chị Hứa Thị Bé T.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Long N, sinh ngày 17/8/2010 và Nguyễn Thị Bách T, sinh ngày 11/3/2012 (Theo nguyện vọng cháu N và cháu T) cho anh Út B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến tuổi trưởng thành. Chị Bé T không cấp dưỡng nuôi con do anh Út B không có yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai đươc ngăn cản, tuy nhiên chị Bé T không được lạm dụng quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con, khi cần thiết cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hay yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Anh Út B xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn Út B có nghĩa vụ nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0003830 ngày 10 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Anh Nguyễn Văn Út B đã nộp xong án phí.
5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai, anh Út B có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị Bé T vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - Chi cục THADS huyện An Biên; - VKSND huyện An Biên; - Các đương sự; - Nơi đăng ký kết hôn; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn (V). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên ký tên và đóng dấu) Thị Gấm |