- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mai Thị H ly hôn với Phạm Việt B"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Mai Thị H và anh Phạm Việt B.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2023/HNGĐ-ST Ngày: 06-7-2023. V/v: “Ly hôn giữa chị H và anh B” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thế Bình.
Ông Trần Xuân Chỉnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 48/2023/TLST-HNGĐ ngày 27/3/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28/5/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Mai Thị H; Sinh năm: 1976(Vắng mặt)
Nơi ĐKHKTT: Tổ 30, khu H, phường Gi, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Nơi ở: Thôn A 1, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
Bị đơn:Anh Phạm Việt B; Sinh năm: 1976(Vắng mặt)
Nơi ĐKHKTT: Tổ 30, khu H, phường Gi, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Nơi ở: Thôn A 1, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06/3/2023 và toàn bộ quá trình tố tụng nguyên đơn chị Mai Thị H trình bày: Chị và anh Phạm Việt B kết hôn vào ngày 07/10/2013, quá trình tìm hiểu tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường G, thành phố V, tỉnh P. Sau khi cưới vợ chồng một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp về tính cách, bất đồng về quan điểm sống và thường xuyên cãi chửi nhau, anh B thường xuyên xúc phạm chị. Vợ chồng sống chung trong một nhà nhưng đã ly thân. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh Phạm Việt B.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung là Phạm Việt Trang N, sinh ngày 24/11/2011. Hiện con chung đang ở cùng chị. Nay ly hôn, chị đề nghị Tòa án cho chị được nuôi con chung và yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng
Về tài sản, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, chị Mai Thị H vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị đơn anh Phạm Việt B không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Phạm Việt B vẫn vắng mặt.
Kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án tại chính quyền địa phương cho thấy: Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn của chị Hvà anh B, UBND xã không nắm được do các đương sự nộp đơn tại Tòa án, địa phương không tổ chức hòa giải.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83, 110, 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho ly hôn giữa chị Mai Thị H và anh Phạm Việt B. Về con chung: Giao cho chị Mai Thị H trực tiếp nuôi con chung là Phạm Việt Trang N, sinh ngày 24/11/2011. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Hà, anh B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với mức cấp dưỡng là 1.000.000 đồng. Anh B có quyền thăm nom con chung khi ly hôn, không ai được cản trở quyền này. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Mai Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn; Anh B có nghĩa vụ nộp án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng. Về quyền kháng cáo: Chị Mai Thị H và anh Phạm Việt B có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Mai Thị H có đơn xin giải quyết vắng mặt. Anh Phạm Việt B đã được triệu tập Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về việc kết hôn: Chị Mai Thị H và anh Phạm Việt B kết hôn vào 07/10/2013, quá trình tìm hiểu tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường G, thành phố V, tỉnh P. Vì vậy, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Về quan hệ hôn nhân: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống bình thường được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp về tính cách, bất đồng về quan điểm sống. Anh chị có thời gian sống ly thân không ai quan tâm chăm sóc đến ai. Nay chị Hxác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh B không còn; chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn. Trong toàn bộ quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa, anh B không có mặt. Điều đó, chứng tỏ anh không tha thiết với cuộc hôn nhân này. Vì vậy, cuộc hôn nhân giữa chị Hvà anh B nếu có duy trì thì mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Mai Thị H đối với anh Phạm Việt B.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung là Phạm Việt Trang N, sinh ngày 24/11/2011. Hiện con chung đang ở cùng chị Hà. Trên cở sở xem xét yêu cầu của đương sự cũng như nguyện vọng của con chung, Hội đồng xét xử thấy: Cần giao cho chị Mai Thị H trực tiếp nuôi con chung. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Mai Thị H yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng là 1.000.000 đồng, kể từ tháng 7/2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và lao động tự lập. Anh B có quyền thăm nom con chung khi ly hôn, không ai được cản trở quyền này.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Hà, anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Mai Thị H phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng; Anh B phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Chị Mai Thị H và anh Phạm Việt B có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83, 110, 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Mai Thị H và anh Phạm Việt B.
2. Về con chung chưa thanh niên: Giao cho chị Mai Thị H tiếp tục trực tiếp nuôi con chung là Phạm Việt Trang N, sinh ngày 24/11/2011. Anh Phạm Việt B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng với mức là 1.000.000 đồng, kể từ tháng 7/2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và lao động tự lập. Anh B có quyền thăm nom con chung khi ly hôn, không ai được cản trở quyền này.
3.Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Mai Thị H phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng. Được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Trực theo biên lai thu số 0004909 ngày 27/3/2023.
Anh Phạm Việt B phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng
4.Về quyền kháng cáo: Chị Mai Thị H và anh Phạm Việt B có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh, huyện; - Chi cục THA huyện Nam Trực; - UBND P. G, TP V; - Các đương sự - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Mạnh Cường |