vanban.org

Bản án 69/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 17/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Đ - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2022/HS-ST
Ngày 17-5-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tài.

Thẩm phán thành viên: Ông Lê Quân Vương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Quốc D;

Bà Nguyễn Thị Phụng;

Ông Trần Bá Luận.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Trần Đức Thoại - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên tòa sơ thẩm, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2022/HSST-QĐ ngày 03 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

1. Phạm Văn Đ, sinh ngày 26/9/1999, tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: ấp 1, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: làm thuê; trình đ h c vấn văn hóa): lớp 5/12; dân t c: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn X đã chết) và bà Lê Thị H; có vợ là bà Trần Ng c M và 01 con; tiền án: không, tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/4/2021 cho đến nay; có mặt.

2. Nguyễn Thái S, sinh ngày 08/12/1996, tại tỉnh Bắc Kạn; nơi cư trú: thôn Đắk Cao, xã A, huyện K, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: công nhân; trình đ h c vấn văn hóa): lớp 9/12; dân t c: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đặng Thông và bà Nguyễn Thị Mến; có vợ là bà Lang Thị Mai và 01 con; tiền án: không, tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/4/2021 cho đến nay; có mặt.

- Người bào chữa cho bị Phạm Văn Đ: ông Nguyễn Thành Nh là Luật sư của Văn phòng Luật sư Ánh Sáng Luật thu c Đoàn Luật sư tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thái S: ông Thái Thanh H là Luật sư của Văn phòng Luật sư Thái Thanh H thu c Đoàn Luật sư tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Bị hại: Nguyễn Duy H, sinh năm 1993; nơi cư trú: xóm Tân Phú, xã N, huyện Đ1, tỉnh Nghệ An; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Võ Thị Lệ C, sinh năm 1997; nơi cư trú: tổ 17, ấp Bến Cát, xã Ph, huyện P, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.

2. Bà Nguyễn Thị Mến, sinh năm 1970, đia chỉ: thôn Đắk Cao, xã A, huyện K, tỉnh Đắk Nông; có mặt.

- Người làm chứng:

1. Lê Đình S1, sinh năm 1987; vắng mặt.

2. Nguyễn Văn T1, sinh năm 2001; vắng mặt.

3. Tăng Văn D, sinh năm 2000; vắng mặt.

4. Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 2000; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 20/4/2021, Phạm Văn Đ điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 61E1- 466.61 chở Nguyễn Văn Đ2 (sinh năm 2000, h khẩu thường trú: xã N, huyện Đ1, tỉnh Nghệ An) đến khu nhà tr của công nhân thu c Công ty Wealth Wood (địa chỉ: ấp 5, xã H1, huyện B, tỉnh Bình Dương) để ăn, uống rượu. Trong quá trình ng i uống rượu, Đ thấy Nguyễn Duy H (sinh năm 1993; h khẩu thường trú: xã N, huyện Đ1, tỉnh Nghệ An) ng i uống rượu và thường nhìn Đ nên Đ hỏi H “Anh nhìn em có gì không”, H trả lời “Tao nhìn tao thích chém mày đó được không”. Khi nghe H nói vậy, Đ bực tức nên kêu Đ2 về phòng tr , không uống rượu nữa. Khi về đến phòng tr của Đ tại ấp 2, xã H1, huyện B, tỉnh Bình Dương thì Đ gặp Nguyễn Thái S (sinh năm 1996, h khẩu thường trú: thôn Đắk Cao, xã A, huyện K, tỉnh Đắk Nông; Đ nói với S “Có thằng muốn chém tao, mày đi với tao”. Khi nghe Đ rủ đi đánh nhau, S đ ng ý đi cùng. Đ đi vào phòng tr của mình lấy 01 m t) dao dài khoảng 35cm, cán dao bằng nhựa, phần lưỡi dao bằng kim loại dạng hình bầu, đầu dao sắc nh n; còn S đi vào khu vực bếp phòng tr của Đ lấy 01 m t) dao dài khoảng 20-25cm, lưỡi dao dạng bản vuông r ng khoảng 04cm để làm hung khí. Sau khi Đ, S chuẩn bị hung khí xong, Đ điều khiên xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 61E1- 466.61 chở S đến khu nhà tr của công nhân thu c Công ty Wealth Wood để tìm đánh H.

Khi đến nơi, thấy H cùng Nguyễn Văn T1 (sinh năm 2001, h khẩu thường trú: thôn Xuân Lai, xã U, huyện Y, tỉnh Nghệ An), Tăng Văn D (sinh năm 2000, h khẩu thường trú: xóm Đông H i, xã N, huyện Đ1, tỉnh Nghệ An) và Lê Đình S1 (sinh năm: 1987; h khẩu thường trú: ấp Phú Tiến, xã Nghĩa Phú, huyện Đ1, tỉnh Nghệ An) đang ng i uống rượu và hát karaoke tại hành lang khu nhà tr nên Đ dựng xe tại bãi đất trống trước khu nhà tr r i m t mình đi vào chỗ H đang ng i, Đ đứng đối diện dùng tay phải rút con dao mang theo đang giấu trong lưng quần r i giơ lên chém 01 phát từ trên xuống dưới trúng vào trán và vùng thái dương phải làm H té ngã nằm trên nền khu tr , H dùng 02 tay ôm lấy đầu. Thấy H bị Đ chém, T1 đứng dậy can ngăn, ôm và đẩy Đ ra ngoài không cho Đ tiếp tục chém H nữa. S cầm dao chạy vào thấy H đang nằm trên nền khu tr , 02 tay ôm lấy đầu nên S cầm dao bằng tay phải chém 01 nhát từ trên xuống dưới trúng vào vùng vai phải của H. Ông Tăng Văn D và ông Lê Đình S1 can ngăn không cho S tiếp tục đánh H. Sau khi đánh H xong, Đ điều khiển xe mô tô chở S bỏ trốn. Trên đường bỏ trốn, Đ đưa dao cho S cầm, S đã ném 02 dao vào bụi cây ven đường.

Nguyễn Duy H được m i người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương điều trị đến ngày 06/5/2021 thì xuất viện.

Tại Kết luận giám định pháp y thương tích số 240/GĐPY ngày 13/5/2021, của Trung Tâm giám định pháp y thu c Sở Y tế tỉnh Bình Dương kết luận thương tích của Nguyễn Duy H như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

+ Vết thương trán – thái dương phải 11,2 x 0,2 cm, sẹo lành. Nứt s trán phải 2,8 cm, vỡ trần hốc mắt phải.

+ Vết thương vai phải 11,5 x 0,3 cm, đứt cơ trên gai, đứt cơ Delta, gãy đầu trên xương cánh tay phải, gãy mõm cùng vai phải, đã phẫu thuật kết hợp xương cánh tay, khâu nối cơ, sẹo lành. Hiện tại còn hạn chế vận đ ng khớp vai mức đ nhiều.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 45% Bốn mươi lăm phần trăm).

3. Cơ chế hình thành vết thương:

+ Vết thương trán – thái dương phải: chiều chếch xuống từ phải sang trái, hướng từ trước ra sau, bờ sắc g n, khả năng do vật sắc gây ra.

+ Vết thương vai phải: chiều nằm ngang, hướng từ trên xuống chếch từ phải sang trái, bờ sắc g n, khả năng do vật sắc gây ra.

Ngày 30/7/2021 Trung Tâm giám định pháp y thu c Sở Y tế tỉnh Bình Dương có Công văn số 98 về việc trả lời tách tỷ lệ thương tích như sau:

+ Vết thương trán – thái dương phải 11,2 x 0,2 cm, sẹo lành. Nứt s trán phải 2,8 cm, vỡ trần hốc mắt phải. Được xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15% (Mười lăm phần trăm).

+ Vết thương vai phải 11,5 x 0,3 cm, đứt cơ trên gai, đứt cơ Delta, gãy đầu trên xương cánh tay phải, gãy mõm cùng vai phải, đã phẫu thuật kết hợp xương cánh tay, khâu nối cơ, sẹo lành. Hiện tại còn hạn chế vận đ ng khớp vai mức đ nhiều. Được xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể là 30% ba mươi phần trăm).

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại Nguyễn Duy H là 45% (bốn mươi lăm phần trăm), căn cứ theo bảng lỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT do B Y tế ban hành ngày 28/9/2019.

Vật chứng thu giữ:

Theo mô tả của các bị cáo hung khí dùng vào việc phạm t i là 01 m t) dao, dài khoảng 35cm, cán dao bằng nhựa, phần lưỡi dao bằng kim loại dạng hình bầu, đầu dao sắc nh n và 01 m t) con dao bằng kim loại, dài khoảng 20-25cm, lưỡi dao dạng bản vuông mà Phạm Văn Đ và Nguyễn Thái S dùng để chém H. Trên đường bỏ trốn, S đã ném 02 con dao này tại khu vực lô 18 thu c ấp 2, xã H1, huyện B, tỉnh Bình Dương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương đã truy tìm nhưng không thu giữ được.

01 xe mô tô hiệu Yamaha Siriur biển số 61F1- 466.61 l do bà Võ Thị Lệ C (sinh năm 1997, h khẩu thường trú: tổ 17, ấp Bến Cát, xã Ph, huyện P, tỉnh Bình Dương) đứng tên sở hữu. Ngày 20/4/2021, bà C cho Đ mượn xe này đi công việc. Việc Đ dùng xe mô tô này vào việc phạm t i bà C không biết. Ngày 26/7/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 67 trả lại xe mô tô này cho bà C.

Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra Nguyễn Duy H yêu cầu bị cáo Phạm Văn Đ và Nguyễn Thái S b i thường tổng số tiền 300.000.000 đ ng (ba trăm triệu đ ng), bao g m: chi phí điều trị tại bệnh viện, tiền lương do không thể lao đ ng trong thời gian điều trị, h i phục và tiền tổn thương tinh thần. Bà Nguyễn Thị Mến mẹ bị cáo S) đã b i thường cho bị hại H 20.000.000 đ ng hai mươi triệu đ ng); bị cáo Đ b i thường 5.000.000 đ ng năm triệu đ ng). Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu các bị cáo b i thường số tiền còn lại 275.000.000 đ ng (hai trăm bảy mươi lăm triệu đ ng), các bị cáo đ ng ý b i thường nên H i đ ng xét xử ghi nhận. Bà Mến không yêu cầu bị cáo trả lại 20.0000.000 đ ng (hai mươi triệu đ ng) nên H i đ ng xét xử không xem xét.

Tại Cáo trạng số: 42/CT-VKSBD.P2 ngày 21/3/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Phạm Văn Đ và Nguyễn Thái S về t i “Giết người” tại điểm n khoản 1 Điều 123 và Điều 15 của B luật Hình sự trong trường hợp chưa đạt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày lời luận t i trong đó có n i dung: giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo; đánh giá tính chất, mức đ , hậu quả hành vi phạm t i, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Vụ án thể hiện tính chất côn đ rất cao, bị cáo Đ trực tiếp chém vào đầu của bị hại, khi được ngăn cản bị cáo Đ mới dừng lại; bị cáo S tham gia với vai trò đ ng phạm giúp sức, nhìn thấy bị hại bị chém nhưng bị cáo S vẫn xông vào chém bị hại. Tuy nhiên, các bị cáo là lao đ ng chính trong gia đình, đã tác đ ng gia đình b i thường m t phần thiệt hại cho bị hại, bị hại có m t phần lỗi và xin gảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; các bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng. Do đó, đề nghị đề nghị áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 15; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 của B luật Hình sự, xử phạt các bị cáo: Phạm Văn Đ từ 08 năm đến 10 năm tù; Nguyễn Thái S từ 07 đến 09 năm tù. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn Đ trình bày quan điểm bào chữa: qua tài liệu có tại h sơ và diễn biến tại phiên tòa, xác định t i danh Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo là đúng; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã khắc phục m t phần hậu quả; người bị hại có m t phần lỗi; bị cáo có h c vấn thấp; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ. Vì vậy, đề nghị Tòa án áp dụng thêm các tình tiết trên tại khoản 2 Điều 51 của B luật Hình sự cho bị cáo và xét xử bị cáo mức án thấp nhất, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về với xã h i, gia đình.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thái S trình bày quan điểm bào chữa: về t i danh thống nhất quan điểm của Viện Kiểm sát. Về hình phạt, Viện Kiểm sát đề nghị mức án từ 07 bảy) đến 09 chín) năm tù là hơi nặng. Người bào chữa đề nghị Tòa án xem xét bối cảnh bị cáo phạm t i, do có sự thách thức từ bị hại dẫn đến hành vi phạm t i của các bị cáo. Bị hại có phần lỗi nên đề nghị Tòa án xem xét mức án thấp hơn hoặc thấp nhất theo đề nghị của Viện Kiểm sát.

Các bị cáo Đ và S thống nhất lời trình bày của người bào chữa và không tranh luận bổ sung.

Các bị cáo nói lời sau cùng: các bị cáo xin lỗi bị hại, mong H i đ ng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để các bị cáo sớm trở về với gia đình, đi làm khắc phục hâu quả cho bị hai.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Về thủ tục tố tụng: các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bào chữa cho các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hàn tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Văn Đ và Nguyễn Thái S khai nhận hành vi phạm t i đúng như cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đã truy tố đối với các bị cáo. Lời nhận t i của các bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có tại h sơ. Do đó, H i đ ng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 20/4/2021, tại địa chỉ ấp 5, xã H1, huyện B, tỉnh Bình Dương, Phạm Văn Đ cùng với Nguyễn Văn Đ2 ăn, uống rượu với bạn trong đó có Nguyễn Duy H. Trong lúc ăn, uống rượu bị cáo Đ thấy H thường xuyên nhìn mình nên bị cáo Đ hỏi bị hại H “Anh nhìn em có gì không”, H trả lời “Tao nhìn tao thích chém mày đó được không”. Nghe vậy, Đ g i Đình ra về, khi về đến phòng tr của mình tại ấp 2, xã H1, huyện B, tỉnh Bình Dương thì Đ gặp Nguyễn Thái S và nói “Có thằng muốn chém tao, mày đi với tao” thì S đ ng ý đi cùng Đ.

Đ điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 61E1- 466.61 chở S quay lại nơi H đang ăn uống, thấy H cùng Nguyễn Văn T1, Tăng Văn D và Lê Đình S1 đang uống rượu, hát karaoke tại hành lang khu nhà tr . Đ dựng xe tại bãi đất trống r i m t mình đi vào chỗ H đang ng i, Đ đứng đối diện H và dùng tay phải rút dao giơ lên chém từ trên xuống dưới trúng vào trán và vùng thái dương phải làm H té ngã trên nền nhà. Thấy H bị Đ chém, T1 can ngăn, ôm và đẩy Đ ra ngoài. S cầm dao chạy vào thấy H đang nằm trên nền nhà, 02 tay ôm đầu, S cầm dao bằng tay phải chém 01 nhát từ trên xuống dưới trúng vào vùng vai phải của H. Thấy vậy D, S can ngăn nên Đ điều khiển xe mô tô chở S bỏ trốn. Trên đường bỏ trốn, Đ đưa dao cho S cầm, S đã ném 02 dao vào bụi cây ven đường.

Tại Kết luận giám định pháp y thương tích số 240/GĐPY ngày 13/5/2021, của Trung Tâm giám định pháp y thu c Sở Y tế tỉnh Bình Dương xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 45% bốn mươi lăm phần trăm).

Cơ chế hình thành vết thương:

+ Vết thương trán – thái dương phải: chiều chếch xuống từ phải sang trái, hướng từ trước ra sau, bờ sắc g n, khả năng do vật sắc gây ra.

+ Vết thương vai phải: chiều nằm ngang, hướng từ trên xuống chếch từ phải sang trái, bờ sắc g n, khả năng do vật sắc gây ra.

Ngày 30/7/2021 Trung Tâm giám định pháp y thu c Sở Y tế tỉnh Bình Dương có Công văn số 98 về việc trả lời tách tỷ lệ thương tích như sau:

+ Vết thương trán – thái dương phải 11,2 x 0,2 cm, sẹo lành. Nứt s trán phải 2,8 cm, vỡ trần hốc mắt phải. Được xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15% (mười lăm phần trăm).

+ Vết thương vai phải 11,5 x 0,3 cm, đứt cơ trên gai, đứt cơ Delta, gãy đầu trên xương cánh tay phải, gãy mõm cùng vai phải, đã phẫu thuật kết hợp xương cánh tay, khâu nối cơ, sẹo lành. Hiện tại còn hạn chế vận đ ng khớp vai mức đ nhiều. Được xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể là 30% ba mươi phần trăm).

Nhận thấy, kết quả điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương có cơ sở xác định thương tích 45 % của bị hại H tại Kết luận giám định ngày 13/5/2021 của Trung Tâm giám định pháp y thu c Sở Y tế tỉnh Bình Dương là do hành vi trái pháp luật của bị cáo Đ và S gây nên.

Hành vi của bị cáo Phạm Văn Đ dùng dao chém bị hại Nguyễn Duy H trúng vào vùng trán và thái dương gây thương tích 15%), và bị cáo Nguyễn Thái S dùng dao chém trúng vào vùng vai gây thương tích 30%) là những vùng tr ng yếu trên cơ thể của bị hại, gây thương tích nặng có thể dẫn đến chết người đã đủ yếu tố cấu thành t i “Giết người”, giữa các bị cáo và bị hại không mâu thuẫn nhưng các bị cáo dùng dao chém gây thương tích thu c tình tiết côn đ . Bị hại được cứu chữa kịp thời, không bị thiệt hại về tính mạng nên các bị cáo được áp dụng điều luật quy định phạm t i chưa đạt.

Do đó, Cáo trạng của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phạm Văn Đ và Nguyễn Thái S về t i giết người theo điểm n khoản 1 Điều 123 B luật Hình sự, trong trường hợp phạm t i chưa đạt theo quy định tại Điều 15 B luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

T i phạm các bị cáo thực hiện là đặc biệt nghiêm tr ng, làm thiệt hại sức khỏe bị hại H, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, an toàn xã h i. Vụ án có tính chất đ ng phạm. Mặc dù bị cáo Đ chém gây thương tích 15% nhưng bị cáo Đ là chủ mưu, trực tiếp chém, đ ng thời rủ rê bị cáo S; bị cáo S tham gia với vai trò giúp sức và trực tiếp chém gây thương tích 30% cho bị hại nên vai trò phạm t i của bị cáo Đ cao hơn bị cáo S. Vì vậy, cần xét xử nghiêm để răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã h i.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để có hình phạt tương xứng mức đ hành vi phạm t i của các bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo Đ b i thường m t phần thiệt hại cho bị hại, bị cáo S tác đ ng gia đình b i thường m t phần thiệt hại cho bị hại; các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 B luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Siriur biển số 61F1- 466.61 l do bà Võ Thị Lệ C đứng tên sở hữu. Ngày 20/4/2021, bà C cho bị cáo Đ mượn xe đi công việc. Việc Đ dùng xe mô tô này vào việc phạm t i bà C không biết. Ngày 26/7/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra quyết định xử lý vật chứng số 67 trả lại xe mô tô này cho C là phù hợp.

Đối với dao các bị cáo dùng chém bị hại, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương không thu giữ được nên không có để xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại Nguyễn Duy H yêu cầu các bị cáo Phạm Văn Đ và Nguyễn Thái S b i thường số tiền còn lại 275.000.000 đ ng (hai trăm bảy mươi lăm triệu đ ng) bao g m chi phí điều trị tại bệnh viện, tiền lương do không thể lao đ ng trong thời gian điều trị, h i phục và tiền tổn thương tinh thần. Tại phiên tòa các bị cáo đ ng ý b i thường số tiền nêu trên nên H i đ ng xét xử ghi nhận.

Về án phí hình sự, dân sự sơ thẩm:

Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 B luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc H i quy định về án phí và lệ phí Tòa án: các bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về t i danh, mức hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp.

Ý kiến của người bào chữa cho các bị cáo là có căn cứ m t phần.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 331, 333 của B luật Tố tụng hình sự;

1. Về t i danh:

Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn Đ và Nguyễn Thái S phạm t i “Giết người” chưa đạt.

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 15; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của B luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 10 (mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 4 năm 2021.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái S 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 4 năm 2021.

3. Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo Phạm Văn Đ và Nguyễn Thái S liên đới b i thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại Nguyễn Duy H 275.000.000 (hai trăm bảy mươi lăm triệu) đ ng.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ đ ng ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của B luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về án phí hình sự, dân sự sơ thẩm:

Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 B luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bu c các bị cáo Phạm Văn Đ và Nguyễn Thái S, mỗi bị cáo phải n p 200.000 đ ng hai trăm nghìn đ ng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bu c các bị cáo Phạm Văn Đ và Nguyễn Thái S liên đới n p 27.500.000 đ ng hai mươi bảy triệu năm trăm nghìn đ ng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Tòa án nhân dân tối cao (Vụ GĐKT 1);

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố H Chí Minh;

- Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố H Chí Minh;

- Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;

- Công an tỉnh Bình Dương;

- Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương;

- Trại Tạm giam - Công an tỉnh Bình Dương;

- Phòng H sơ - Công an tỉnh Bình Dương;

- Người tham gia tố tụng (7);

Nguyễn Văn Tài

- Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;

- Ủy ban nhân dân cấp xã, phường nơi các bị cáo cư trú (2);

- Phòng KTNV&THA (5);

- Lưu: văn phòng (2), h sơ vụ án, LTH, 18.

THẨM PHÁN

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÀNH VIÊN Bùi Quang Ẩn Nguyễn Văn Cƣơng Lê Thị Mỹ

Nguyễn Thị Sang

Bùi Ngọc Thạch

Cỡ chữ