vanban.org

Bản án 69/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 30/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Tống Văn T: 36 ( Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Cướp

tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/9/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Tống Văn T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Tống Văn T: 36 ( Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Cướp
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HM
THÀNH PHỐ H
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2022/HS - ST
Ngày: 30/03/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HM - THÀNH PHỐ H

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Bà Phạm Thị N Các Hội thẩm nhân dân :

1. Bà Tạ Thị T

2. Bà Trần Thị Kim D Thư ký phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Minh N

- Thư ký Tòa án nhân dân quận HM Đại diện VKSND quận HM– thành phố H tham gia phiên tòa:

Bà Đỗ Thị H - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 03 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận HM-thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2022/HSST ngày 21/02/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2022/QĐXXST - HS ngày 01/03/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 45/2022/HSST – QĐ ngày 15 tháng 03 năm 2022 đối với bị cáo: Tống Văn T, sinh năm 1987; HKTT: Xóm 2, thôn NL, xã Y, huyện Y, tỉnh NB; Chỗ ở: Không cố định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông: Tống Văn T; Con bà: Tạ Thị B; Gia đình có 03 anh em. Bị cáo là con thứ nhất. Danh chỉ bản số 594 lập ngày 7/10/2021 tại Công an quận HM– thành phố H thì bị cáo không có tiền án, 01 tiền sự.

Ngày 24/5/2013, Công an huyện Y, tỉnh NB xử phạt hành chính theo Quyết định 57 (phạt tiền 2.500.000 đồng) về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.

Bị cáo bị bắt quả tang ngµy 28/9/2021; hiÖn ®ang bÞ t¹m giam t¹i Trại tạm giam số 2 - C«ng an quận HM. (Có mặt tại phiên tòa)

Ngƣời bị hại: Chị Hà Thùy N - Sinh năm: 2001

Trú tại: Số 24/16 ngõ 71 TL, T, HM, H.

( Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 45 phút ngày 28/9/2021, tổ công tác Công an phường T đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát trong khu vực, thì nghe tiếng hộ “Cướp” ở đầu ngách 16 ngõ 71 TL, T, H, H nên tổ công tác đã đi đến kiểm tra thì thấy chị Hà Thùy N (sinh năm: 2001, trú tại: Số 24/16 ngõ 71 TL, T, HM, H) đang hộ: “Cướp” và Tống Văn T điều khiển xe máy chạy vào trong ngách 16/71 T. Tổ công tác đã phối hợp cùng quần chúng nhân dân đuổi theo, khoảng 40-50 m (đến cuối ngách) thì bắt giữ được T tại trước cửa nhà số 22 ngách 16/71 phố T. Tại chỗ, thu giữ của Tống Văn T 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu BKS: 29L2-1452, SK: NJI0011005837 SM: LC150FMGY0660987 đã cũ, không kiểm tra tình trạng của xe; 01 điện thoại Samsung Galaxy J7 Prime, imeil: 355228083766038, imei2: 355229083766036 đã bị rạn nứt màn hình; 01 túi nilon màu đen bên trong có 01 áo sơ mi dài tay và 01 áo rét dài tay. Kiểm tra trong túi xách của chị Hà Thùy N có 01 điện thoại di động Iphone 8 plus màu trắng, số imei: 352977097372174 và số tiền 293.000 đồng với các tờ tiền mệnh giá 02 tờ 100.000 đồng , 01 tờ 50.000 đồng , 02 tờ 20.000 đồng và 03 tờ 1.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 213/KL-HĐĐGTS ngày 10/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu trắng, số imei: 352977097372174 có trị giá 5.000.000 đồng và 01 túi xách loại túi vải kích thước 30x30cm màu sáng hồng có trị giá 20.000 đồng.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, Tống Văn T khai nhận: Khoảng 22 giờ 30 ngày 28/9/2021, T điều khiển xe máy Honda Dream BKS: 29L2 - 1452 đi từ phố N hướng đi phố T với mục đích tìm nhà để ở thì thấy chị Hà Thùy N đang điều khiển xe máy điện đi một mình, trên vai phải đeo 01 chiếc túi xách, nghĩ rằng trong túi có tiền và chị N là phụ nữ đi một mình nên T nảy sinh ý định chiến đoạt tài sản. T đi theo chị N vào ngõ 71 TL, T, HM, H. Khi đến đầu ngách 16/71 TL, quan sát xung quanh không có người, trời tối nên T điều khiển xe máy ép sát phía bên trái (bên phải của chị N) làm cho chị N phải dừng xe lại. Sau đó, T dùng tay trái túm lấy chiếc túi vải chị N đang đeo trên vai để giật lấy túi, theo phản xạ chị N giữ lại túi bằng tay phải và hô lớn “cướp, cướp” nên T quát “đưa túi xách đây, không được hét” nhưng chị N vẫn giữ lại túi xách và hô hoán thì T tiếp tục quát “câm mồm, không được hét” để đe dọa chị N nhằm làm cho chị N sợ và đưa túi xách cho mình tuy nhiên chị N vẫn hô hoán (cướp cướp) thì lúc này, người dân xung quanh phát hiện nên T đã bỏ chạy nhưng sau đó bị cơ quan công an phối hợp cùng quần chúng nhân dân bắt giữ lại.

Lời trình bày của bị hại là chị Hà Thùy N cùng các nhân chứng Lê Văn T , Nguyễn Quang Đ , Đinh Văn D phù hợp với nội dung diễn biến sự việc.

Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát Camera, qua rà soát phát hiện Camera có ghi được hình ảnh tại ngã ba đoạn từ ngõ 71 rẽ vào ngách 16 có hình ảnh chị N đi xe máy điện và đối tượng T đi xe máy phóng xe vượt lên trước, sau đó có nhiều tiếng hô: “Cướp, cướp, cướp...”.

Tiến hành dựng lại hiện trường, thực nghiệm điều tra, xác định tư thế, vị trí của T khi thực hiện hành vi, kết quả: T đã diễn tả lại được hành vi đi xe máy ép sát xe của chị N vào bên trái đường, dùng tay trái túm giật chiếc túi vải chị N đang đeo ở bên vai phải, khi chị N dùng tay phải túm giữ thì giữa chị N và T có giằng co với nhau. Phù hợp với lời khai của bị hại, đối tượng và nội dung diễn biến sự việc.

Gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại Hà Thùy N số tiền 7.000.000 đồng. Bị hại không có yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Tống Văn T.

Chiếc điện thoại Samsung Galaxy J7 Prime và hai chiếc áo trong túi nilon màu đen bị thu giữ là tài sản của T, không liên quan đến hành vi phạm tội, hiện đang nhập kho vật chứng Chị cục thi hành án quận HM.

Về chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu BKS: 29L2-1452, SK: NJI0011005837, SM: LC150FMGY0660987, cơ quan Công an đã tiến hành xác minh: Phát hiện biển kiểm soát không cùng với số khung, số máy. Theo lời khai của T và anh Phạm Đức S thì chiếc xe máy này là của anh S để tại công ty cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển điện lực H (địa chỉ 115 T, M, HM, H) nhằm phục vụ cho việc đi lại của anh em công nhân (trong đó có T). Anh S mua lại chiếc xe này tại cửa hàng xe cũ khoảng 03 năm trước. Qua xác minh, chiếc BKS đăng ký mang tên anh Lê Văn C. Theo lời khai của anh Lê Văn C: Khoảng cuối tháng 5/2000, anh C có mua chiếc xe máy nhãn hiện MAGIC và đăng ký BKS: 29L2-1452 mang tên anh C để đi lại, đến đầu năm 2010 thì bán lại chiếc xe cho một người bạn xã hội (không nhớ rõ nhân thân, lai lịch). Cơ quan công an đã đăng báo tìm chủ sở hữu xe máy MAGIC có BKS: 29L2-1452, SK: 404826, SM: 404826 và có Công văn về việc ủy thác điều tra đến Cơ quan CSĐT - Công an thành phố T, tỉnh B để làm việc với chị Lữ Thị T (người đứng tên sở hữu chiếc xe có SK: 11005837, SM: 660987) để làm rõ nội dung liên quan, hiện đều chưa có kết quả. Do đó, Cơ quan Công an đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đối với xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu BKS: 29L2-1452, SK: NJI0011005837, SM: LC150FMGY0660987.

Tại bản cáo trạng số 39/CT-VKS-HM ngày 16 tháng 02 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân quận HM truy tố các bị cáo Tống Văn T về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận HM giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Áp dụng khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Tống Văn T từ 38 tháng đến 42 tháng tù về tội “Cướp tài sản”.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Tống Văn T.

Về phần dân sự: Người bị hại Hà Thùy N đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự nên Tòa án không xét.

Tại phiên tòa các bị cáo Tống Văn T thừa nhận hành vi Cướp tài sản và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ nhất mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận HM, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận HM, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét về hành vi bị truy tố:

Khoảng 22 giờ 45 phút ngày 28/9/2021, tại đầu ngách 16 ngõ 71 TL, T, HM, H, Tống Văn T có hành vi điều khiển xe máy áp sát phía bên trái (bên phải của chị Hà Thùy N) làm cho chị N phải dừng xe lại, sau đó dùng tay túm, giật lấy chiếc túi xách chị N đang đeo trên vai và có lời lẽ đe dọa, uy hiếp tinh thần chị N nhằm cướp chiếc túi của chị N, bên trong túi có 01 điện thoại di động Iphone 8 plus màu trắng, số imei: 352977097372174 và số tiền 293.000 đồng với các tờ tiền mệnh giá 02 tờ 100.000 đồng, 01 tờ 50.000 đồng, 02 tờ 20.000 đồng và 03 tờ 1.000 đồng, có tổng trị giá tài sản là 5.313.000 đồng (năm triệu ba trăm mười ba nghìn đồng).

Hành vi của các bị cáo Tống Văn T đủ yếu tố cấu thành tội Cướp tài sản. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Điều 168 quy định:

“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cực được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm”.

Các bị cáo Tống Văn T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, do đó cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận HM truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho nhân dân tại địa phương, làm mất trật tự trị an xã hội, do vậy cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân:

- Bị cáo Tống Văn T nhân thân không có tiền án và 01 tiền sự. Người bị hại Hà Thùy N có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo Tống Văn T. Hội đồng xét xử cũng xem xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Tống Văn T là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.

Về phần dân sự: Người bị hại Hà Thúy N đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự nên Tòa không xét.

Về chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu BKS: 29L2-1452, SK: NJI0011005837, SM: LC150FMGY0660987 Cơ quan Công an đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đối với xe máy này nên Tòa án không xét.

Chiếc điện thoại Samsung Galaxy J7 Prime và hai chiếc áo trong túi nilon màu đen bị thu giữ là tài sản của T, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.

Các vấn đề khác: Không.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Các Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử phạt: Bị cáo Tống Văn T: 36 ( Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Cướp

tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/9/2021.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Tống Văn T.

2. Về xử lý vật chứng:

Trả lại cho bị cáo Tống Văn T 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime imeil: 355228083766038, imei2: 355229083766036 đã bị rạn nứt màn hình và 01 chiếc áo sơ mi kẻ dài tay màu trắng xanh và 01 áo phao dài tay màu xám.

( Toàn bộ vật chứng hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự quận HM theo phiếu nhập kho số: 0119/2022/BBCC ngày 18 tháng 03 năm 2022).

3. Về án phí: Bị cáo Tống Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Tống Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại chị Hà Thùy N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ