vanban.org

Bản án 69/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 51, Điều 54, Điều 56, Điều 58, Điều 71, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Xử: Chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của anh Đoàn Phi A. Về hôn nhân:Ah Đoàn Phi A được ly hôn với chị Bùi Thị Mỹ C. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đoàn Phi A - Bùi Thị Mỹ C"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51, Điều 54, Điều 56, Điều 58, Điều 71, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PLEIKU
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 29/8/2022
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lương Văn Kiên.

2. Bà Tô Thị Lành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nhớ – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Trúc - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 139/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2022, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 63/QĐST- HNGĐ, ngày 05 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: anh Đoàn Phi A, sinh năm 1987.

Địa chỉ: 185A Huỳnh Thúc K, tổ 9, phường Yên Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt

2.Bị đơn: Chị Bùi Thị Mỹ C, sinh năm 1994.

Địa chỉ: 50 Lê Thị R, tổ 3, phường Hội P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện đề ngày 22/02/2022, tại bản khai và tại phiên tòa nguyên đơn làAh Đoàn Phi A trình bày:

Về hôn nhân: anh Đoàn Phi A và chị Bùi Thị Mỹ C đăng ký kết hôn vào năm 2019 tại UBND phường Yên Đ, TP. P, tỉnh Gia Lai, trong quá trình sinh sống vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm, lối sống, chị C không làm tròn bổ phận làm vợ. Vợ chồng đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn và đã sống ly thân 02 năm nay.Ah Đoàn Phi A yêu cầu được ly hôn với chị Bùi Thị Mỹ C.

Về con chung: Có 01 con Đoàn Ngọc Ý N, sinh ngày 26/02/2020. Con chung hiện đang sống với chị C, nên anh A giao con cho chị C nuôi dưỡng, vì con đang còn nhỏ.

Về cấp dưỡng: anh A tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng /tháng. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 09/2022.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

* Bị đơn chị Bùi Thị Mỹ C: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn là chị Bùi Thị Mỹ C mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng chị C vắng mặt nên không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: anh A và chị C mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51, Điều 54, Điều 56, Điều 58, Điều 71, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khở i kiê ̣n của anh A. Xử cho anh A được ly hôn với chị C.

Về con chung: 01 con chung, hiện nay con chung đang sống với chị C mặt khác cháu còn nhỏ nên giao con cho chị C nuôi là phú hợp.

Việc cấp dưỡng: Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng /tháng của anh A.

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Về án phí: nguyên đơn phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Anh Đoàn Phi A có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết xin ly hôn với chị Bùi Thị Mỹ C có địa chỉ: 50 Lê Thị R, tổ 3, phường Hội P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Bị đơn chị Bùi Thị Mỹ C đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về hôn nhân:Ah Đoàn Phi A và chị Bùi Thị Mỹ C kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân phường Yên Đỗ, TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 48, ngày 26/4/2019. Vì vậy, quan hệ hôn nhân củaAhA và chị C là hôn nhân hợp pháp.

Anh A cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, chị C không làm tròn bổn phận làm vợ, vì vậy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn nên anh A yêu cầu được ly hôn với chị C.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải theo quy định nhưng chị C vẫn không có mặt để có ý kiến mong muốn đoàn tụ, điều này thể hiện việc chị C đã bỏ mặc, không quan tâm đến việc hàn gắn gia đình. Mặt khác Tòa án đã tiến hành xác minh nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn nhưng chính quyền địa phương không biết vì đương sự không báo. Từ căn cứ trên thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng anh A và chị C là có thật, mâu thuẫn đã kéo dài và đã đến mức sâu sắc, vợ chồng không còn tôn trọng, chăm sóc nhau trong khoảng thời gian dài, họ không còn tình thương và niềm tin đối với nhau. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh A và chị C đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh A.

Về con chung: có 01 con Đoàn Ngọc Ý N, sinh ngày 26/02/2020. Con chung hiện đang sống với chị Chị, nên anh A giao con cho chị C nuôi dưỡng, vì con đang còn nhỏ, nguyện vọng của anh A giao con chung cho chị C nuôi dưỡng. Xét thấy nguyên vọng này là phù hợp với quy định của pháp luận nên chấp nhận.

Về cấp dưỡng: anh A tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng /tháng. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 09/2022. Tòa án ghi nhận sự tự nguyện này.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Về án phí: nguyên đơn anh Đoàn Phi A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng: Điều 51, Điều 54, Điều 56, Điều 58, Điều 71, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ: khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của anh Đoàn Phi A.

- Về hôn nhân:Ah Đoàn Phi A được ly hôn với chị Bùi Thị Mỹ C.

- Về con chung: Có 01 con Đoàn Ngọc Ý N, sinh ngày 26/02/2020. Con chung hiện đang sống với chị C.

Giao con chung là cháu Đoàn Ngọc Ý N cho chị Bùi Thị Mỹ C trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu N đã thành niên và có khả năng lao động hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

- Về cấp dưỡng: Ghi nhận việc anh Đoàn Phi A tự nguyện cấp dưỡng nuôi con Đoàn Ngọc Ý N số tiền 1.000.000 đồng /tháng cho đến khi cháu N đã thành niên và có khả năng lao động hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 09/2022.

Kể từ ngày người có quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự. Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Không bên nào được cản trở quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định việc thay đổi mức cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nghĩa vụ chịu án phí:

- Án phí ly hôn sơ thẩm: anh Đoàn Phi A phải chịu 300.000 đồng tiền án phí, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai số 0001403 ngày 10 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Ah Đoàn Phi A đã nộp đủ án phi ly hôn sơ thẩm.

- Án phí cấp dưỡng nuôi con: anh Đoàn Phi A phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con 150.000 đồng.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án nguyên đơn có quyền kháng cáo Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú.

Cỡ chữ