- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Nguyễn Thị Bích T yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn G"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích T.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2022/HNGĐ-ST Ngày: 05 - 8 - 2022 V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Thái Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thạch Hoàng Tha.
2. Ông Hà Phương Đông.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hiệp Văn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 151/2022/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 5 năm 2022 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2022/QĐXXST-HNGĐngày 12 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1987;
Nơi cư trú: Số nhà A, đường B, Khóm C, Phường D, thành phố E, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt);
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1989;
Nơi cư trú:Số G,ấp H,xã L,huyện M,tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/5/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích T trình bày:
Bà Nguyễn Thị Bích T cùng ông Nguyễn Văn G kết hôn, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã L vào ngày 25/10/2012. Mãi tới tháng 10 năm 2019, ông Nguyễn Văn G có cuộc sống với người phụ nữ khác ở bên ngoài, bỏ mặc vợ và hai con ra sống riêng. Từ tháng 10 năm 2019 đến nay vợ chồng bà Nguyễn Thị Bích T ông Nguyễn Văn G đã sống ly thân cho đến nay.
Bà Nguyễn Thị Bích T xác định vợ chồng có 02 người con chung tên: Nguyễn Quốc K, sinh ngày 07/01/2014 và Nguyễn Quốc T1, sinh ngày 21/8/2018 đang do bà Nguyễn Thị Bích T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị Bích T xác định vợ chồng không tạo lập được tài sản chung và không có nợ chung.
Nay Bà Nguyễn Thị Bích T yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bích T yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn G.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị Bích T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 07/01/2014 và Nguyễn Quốc T1, sinh ngày 21/8/2018 đến khi thành niên và yêu cầu ông Nguyễn Văn G phải cấp dưỡng cho hai con chung mỗi tháng là 5.000.000 đồng.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Bích T xác định không có, không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Bích T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện bà Nguyễn Thị Bích T đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ gồm có:
+ Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị Bích T, Nguyễn Văn G (bản sao chứng thực);
+ Sổ hộ khẩu tên chủ hộ Phạm Thanh T2 (bản sao chứng thực);
+ Giấy chứng nhận kết hôn; Bản sao giấy khai sinh mang tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 07/01/2014 và Nguyễn Quốc T1, sinh ngày 21/8/2018;
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng cũng như hỗ trợ cho nguyên đơn trong việc gửi các tài liệu chứng cứ cho ông Nguyễn Văn G. Nhưng ông Nguyễn Văn G thường xuyên không có mặt tại nhà và được bà Lâm Thị Hương là mẹ ruột, ngụ cùng địa chỉ nhận thay các văn bản tố tụng. Do đó việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng được thực hiện theo quy định tại Điều 177 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tuy nhiên ông Nguyễn Văn G không có văn bản trình bày ý kiến cũng như không đến Tòa án theo giấy triệu tập.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành ghi nhận ý kiến của cháu Nguyễn Quốc K, sinh ngày 07/01/2014. Theo đó, cháu Nguyễn Quốc K đã đưa ra nguyện vọng được sống cùng với mẹ khi cha mẹ ly hôn. Bên cạnh đó Tòa án đã tiến hành xác minh về hoàn cảnh gia đinh, nguyên nhân phát sinh tranh chấp và nguyện vọng của vợ chồng, con trong vụ án.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 09/6/2022,bà Nguyễn Thị Bích T có văn bản yêu cầu vắng mặt xét xử.
Trong đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt bà Nguyễn Thị Bích T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn G. Bà Nguyễn Thị Bích T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 07/01/2014 và Nguyễn Quốc T1, sinh ngày 21/8/2018 đến khi thành niên và yêu cầu ông Nguyễn Văn G phải cấp dưỡng cho hai con chung mỗi tháng là 1.000.000 đồng cho hai người con chung.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích T vắng mặt có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.
Bị đơn ông Nguyễn Văn G đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán,Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đối với bị đơn không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án là chưa thực hiện đúng nghĩa vụ theo Điều 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Về việc giải quyết vụ án: Xét thấy tình cảm vợ chồng bà Nguyễn Thị Bích T và ông Nguyễn Văn G không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bích T cho vợ chồng bà Nguyễn Thị Bích T ông Nguyễn Văn G ly hôn. Về con chung giao cho bà Nguyễn Thị Bích T trực tiếp nuôi dưỡng và buộc ông Nguyễn Văn G cấp dưỡng con chung một tháng 2.000.000 đồng cho hai người con chung cho đến khi con chung thành niên. Về tài sản chung và nợ chung bà Nguyễn Thị Bích T xác định không có nên không đặt ra xem xét. Ngoài ra còn buộc bà Nguyễn Thị Bích T, ông Nguyễn Văn G phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 05/5/2022, bà Nguyễn Thị Bích T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Văn G có nơi cư trú tại số 231,ấp H, xã L, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Long Phú thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.
Về xét xử vắng mặt đối với đương sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích T vắng mặt và có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Văn G vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do khi đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 3 Điều 235 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Xét yêu cầu của Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích T về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn.
Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2008, bà Nguyễn Thị Bích T cùng ông Nguyễn Văn G kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tiến hành thủ tục đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã L cấp giấy chứng nhận kết hôn số 93/2012, quyển số 01/2012, ngày 25/10/2012. Theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Bích T và ông Nguyễn Văn G là hợp pháp.
Theo trình bày của bà Nguyễn Thị Bích T: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc bên gia đình của bà Nguyễn Thị Bích T tại số 109, đường Cầu Đen, Khóm 3, Phường 8, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Sau đó tới tháng 10 năm 2019, ông Nguyễn Văn G có cuộc sống với người phụ nữ khác ở bên ngoài, bỏ mặc bà Nguyễn Thị Bích T nvà hai con ra sống riêng. Từ tháng 10 năm 2019 đến nay vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay. Sau khi ly thân, cách đây hơn một năm ông Nguyễn Văn G đã cắt chuyển hộ khẩu và về sinh sống bên gia đình của cha mẹ ruột sinh sống cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy những nội dung này đã được gửi trực tiếp cho ông Nguyễn Văn G nhận sau khi thụ lý vụ án. Tuy nhiên ông Nguyễn Văn G không có ý kiến hay phản đối những tình tiết, sự kiện trên. Bên cạnh đó, căn cứ vào sổ hộ khẩu do bà Nguyễn Thị Bích T cung cấp tại trang số 5 và trang 15 được Công an Phường 5, thành phố Sóc Trăng ghi thông tin về việc “ông Nguyễn Văn G, SN 1989 chuyển HK theo cha mẹ đến ấp Cái Đường, Tân Thạnh, Long Phú, Sóc Trăng ngày 18/6/2020”. Đối chiếu với quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xác định đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Bà Nguyễn Thị Bích T đã xác định cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, mâu thuẫn của vợ chồng không thể hàn gắn được và vợ chồng đã sống ly thân do ông Nguyễn Văn G bỏ mặc bà Nguyễn Thị Bích T cùng hai chon chung cho đến nay. Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải để vợ chồng cho bà Nguyễn Thị Bích T ông Nguyễn Văn G hàn gắn tình cảm, tuy nhiên ông Nguyễn Văn G đều vắng mặt. Việc này đã thể hiện việc cho ông Nguyễn Văn G không muốn được hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà Nguyễn Thị Bích T. Vì vậy Tòa án không tổ chức được phiên hòa giải để các bên hàn gắn tình cảm vợ chồng. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích T cho bà Nguyễn Thị Bích T được ly hôn với cho ông Nguyễn Văn G.
Về thời điểm chấm dứt hôn nhân: Theo quy định tại khoản 1 Điều 57 của Luật hôn nhân dân đình quy định “Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật”. Do đó quan hệ hôn nhân theo Giấy chứng nhận kết hôn số 93/2012, quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân dân xã L cấp ngày 25/10/2012 của bà Nguyễn Thị Bích T và ông Nguyễn Văn G sẽ chấm dứt khi Bản án này có hiệu lực pháp luật.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Bích T xác định thời gian chung sống, vợ chồng bà Nguyễn Thị Bích T và ông Nguyễn Văn G có hai người con chung tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 07/01/2014 và Nguyễn Quốc T1, sinh ngày 21/8/2018. Hiện nay con chung do bà Nguyễn Thị Bích T đang trực tiếp nuôi dưỡng. Việc này cũng hoàn toàn phù hợp với giấy khai sinh mang tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 07/01/2014 và Nguyễn Quốc T1, sinh ngày 21/8/2018 thể hiện là con chung của bà Nguyễn Thị Bích T, ông Nguyễn Văn G.
Xét ý kiến của bà Nguyễn Thị Bích T về việc bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 07/01/2014 và Nguyễn Quốc T1, sinh ngày 21/8/2018 hiện nay đang được bà trực tiếp chămsóc, nuôi dưỡng. Con chung tên Nguyễn Quốc K đã đưa ra nguyện vọng được sống với bà Nguyễn Thị Bích T. Vấn đề này Hội đồng xét xử thấy rằng, từ khi vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 đến nay con chung Nguyễn Quốc K, sinh ngày 07/01/2014 và Nguyễn Quốc T1, sinh ngày 21/8/2018 đang được bà Nguyễn Thị Bích T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến nay. Ông Nguyễn Văn G cũng không có ý kiến gì về việc này. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 giao cháu Nguyễn Quốc K, sinh ngày 07/01/2014 và Nguyễn Quốc T1, sinh ngày 21/8/2018 cho bà Nguyễn Thị Bích T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Bích T trình bày hiện đang làm công việc phụ bán thịt heo tại chợ trung tâm thành phố Sóc Trăng. Thu nhập mỗi ngày khoảng 180.000 đồng. Mỗi tháng, phải chi phí cho việc nuôi con chung khoảng 6.000.000 đồng. Do nguồn thu nhập thấp nên bà Nguyễn Thị Bích T yêu cầu ông Nguyễn Văn G cấp dưỡng cho con chung mỗi tháng mỗi tháng là 1.000.000 đồng. Cả hai là 2.000.000đồng/ tháng cho đến khi con chung thành niên. Vấn đề này Hội đồng xét xử thấy rằng, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con là thiêng liêng nên người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con cũng phù hợp với việc bà Nguyễn Thị Bích T đưa ra yêu cầu ông Nguyễn Văn G phải cấp dưỡng cho con chung theo quy định cho đến khi cháu Nguyễn Quốc K, sinh ngày 07/01/2014 và Nguyễn Quốc T1, sinh ngày 21/8/2018 thành niên là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3.9] Về mức cấp dưỡng nuôi con: Căn cứ vào khoản 1 Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.”. Trong quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Bích T xác định được nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng mỗi tháng là 6.000.000 đồng cũng như không thực hiện được việc hòa giải giữa hai bên do Bị đơn ông Nguyễn Văn G không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án. Do vậy Hội đồng xét xử lấy mức lương cơ sở hiện hành căn cứ vào Nghị định số 38/2019/NĐ-CP, ngày 09/5/2019, Chính phủ ban hành quy định mức lương cơ sở là 1.490.000 đồng để xác định số tiền buộc ông Nguyễn Văn G phải cấp dưỡng cho con chung theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bích T đưa ra mỗi tháng là 1.000.000 đồng cho một người con chung là hoàn toàn phù hợp.
Về thời điểm cấp dưỡng: Theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cũng như điểm a khoản 2 Điều 482 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định: “…2. Những bản án, quyết định sau đây của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, khiếu nại, kháng nghị, kiến nghị: a) Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả công lao động, nhận người lao động trở lại làm việc, trả lương, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp mất việc làm, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất tinh thần của công dân; quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công;…”. Do vậy Hội đồng xét xử buộc ông Nguyễn Văn G thực hiện cấp dưỡng vào ngày tuyên án là phù hợp.
Bên cạnh đó ông Nguyễn Văn G có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở theo Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm2014.
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Bích T xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Bích T xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Đây là vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án do đó trong vụ án ly hôn nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Vì vậy bà Nguyễn Thị Bích T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án ly hôn là 300.000 đồng. Ngoài ra căn cứ quy định tại điểm a khoản 6 Điều 27 Pháp lệnh Án phí, lệ phí Tòa án quy định: “a) Người có nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ hoặc một lần theo quyết định của Tòa án phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như đối với trường hợp vụ án dân sự không có giá ngạch;” do đó cần buộc bị đơn ông Nguyễn Văn G phải chịu án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung.
Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bà Nguyễn Thị Bích T, ông Nguyễn Văn G có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú phát biểu tại phiên tòa,Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 147, 227, 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57 các điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn,giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bích T.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bích T được ly hôn với ông Nguyễn Văn G. Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Bích T ông Nguyễn Văn G theo giấy chứng nhận kết hôn số 93/2012, quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân dân xã L cấp ngày 25/10/2012 chấm dứt kể từ ngày Bản án này có hiệu lực pháp luật.
2/ Về con chung:
- Giao con chung tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 07/01/2014 và Nguyễn Quốc T1, sinh ngày 21/8/2018 (hiện nay con chung đang sống chung với bà Nguyễn Thị Bích T) cho bà Nguyễn Thị Bích T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi thành niên.
- Về cấp dưỡng cho con chung:
+ Buộc ông Nguyễn Văn G phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 07/01/2014 định kỳ hàng tháng, mỗi tháng là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
+ Buộc ông Nguyễn Văn G phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung tên Nguyễn Quốc T1, sinh ngày 21/8/2018 định kỳ hàng tháng, mỗi tháng là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
+ Thời gian cấp dưỡng được tính từ ngày 05/8/2022 cho đến khi Nguyễn Quốc K, sinh ngày 07/01/2014 và Nguyễn Quốc T1, sinh ngày 21/8/2018 thành niên.
+ Ông Nguyễn Văn G có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Bà Nguyễn Thị Bích T cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Nguyễn Văn G trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3/ Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Bích T xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
4/ Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Bích T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
5/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Bích T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0003450, ngày 05/5/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng (Như vậy bà Nguyễn Thị Bích T đã thực hiện xong). Buộc ông Nguyễn Văn G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng.
6/ Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Bích T và ông Nguyễn Văn G có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng (P. KT, NV&THA); - VKSND huyện Long Phú; - Chi cục THADS huyện Long Phú; - Các đương sự; - UBND xã L; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trương Thái Ngọc |