vanban.org

Bản án 69/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Bùi Thị P. Bùi Thị P được ly hôn với Lưu Thanh D.

Về con chung: Bùi Thị P được tiếp tục nuôi con tên Lưu Ngọc Thảo Nhi, sinh ngày 15/9/2021. Lưu Thanh D không phải cấp dưỡng nuôi con. Bùi Thị P và các thành viên trong gia đình không được cản trở Lưu Thanh D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung khi ly hôn.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Bùi Thị P. Bùi Thị P được ly hôn với Lưu Thanh D.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LAI VUNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 69 /2022/HNGĐ-ST
Ngày: 27-12-2022
Về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Phát Triển;

2. Ông Đặng Văn Hai

- Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Phát Đạt – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lai Vung.

Ngày 27 tháng 12 năm 2022 tại hội trường Toà án nhân dân huyện Lai Vung xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 157/2022/TLST-HNGĐ, ngày 10/10/2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 606/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 07/12/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bùi Thị P, sinh năm: 1997; Địa chỉ: Số 101/KDC, ấp LĐ, xã LT, huyện LV, tỉnh ĐT; (có mặt)

2. Bị đơn: Lưu Thanh D, sinh năm: 1996; Địa chỉ: Số 68C/2, ấp LĐ, xã LT, huyện LV, tỉnh ĐT. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các lời khai có trong hồ sơ cũng như tại phiên toà nguyên đơn Bùi Thị P trình bày:

Năm 2018, Bùi Thị P và Lưu Thanh D quen biết nhau và được gia đình 02 bên tổ chức đám cưới, vợ chồng có đăng ký kết hôn ngày 05/10/2021 tại Ủy ban nhân dân xã Long Thắng, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp; Quá trình sống chung vợ chồng có nhiều mâu thuẩn, do bất đồng quan điểm thường hay cải vả, anh Dửng không lo lao động chăm lo cho gia đình, thường hay uống rượu say sỉn, Bùi Thị P khuyên can nhiều lần nhưng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng ly thân từ tháng 11 năm 2021 đến nay, hiện nay vợ chồng không thể hàn gắn được. Nay Bùi Thị P thấy không còn khả năng đoàn tụ, Bùi Thị P nhất quyết yêu cầu được ly hôn với Lưu Thanh D. Về con chung vợ chồng có 01 con chung tên Lưu Ngọc Thảo Nhi, sinh ngày: 15/9/2021, Bùi Thị P yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi con và không yêu cầu Lưu Thanh D cấp dưỡng nuôi con; Trong thời gian vợ chồng ly thân thì thỉnh thoảng anh Dửng có đến thăm con, cụ thể ngày 16/11/2022 anh Dửng đến thăm con, Bùi Thị P có trao đổi nói với anh Dửng về việc đến Tòa để giải quyết ly hôn nhưng anh Dửng không đồng ý đến Tòa án mà nói muốn làm gì thì làm. Về tài sản chung Bùi Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung Bùi Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn Lưu Thanh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, không có lý do chính đáng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bùi Thị P có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa Bùi Thị P với Lưu Thanh D, đây là vụ án “Ly hôn”. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã Long Thắng, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp cho nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn Lưu Thanh D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai không có lý do. Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định, vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Hôn nhân giữa Bùi Thị P và Lưu Thanh D có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận là vợ chồng. Quá trình chung sống Bùi Thị P và Lưu Thanh D có phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường cự cãi, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, Bùi Thị P nhất quyết xin ly hôn. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật cho Lưu Thanh D, Lưu Thanh D biết Bùi Thị P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng Lưu Thanh D không đến Tòa án cũng không có văn bản phản bác gì đối với yêu cầu của nguyên đơn điều đó thể hiện bị đơn tự từ bỏ quyền phản bác của mình. Hội đồng xét xử đã động viên nhưng Bùi Thị P vẫn nhất quyết yêu cầu ly hôn với Lưu Thanh D, xét thấy mâu thuẫn của Bùi Thị P với Lưu Thanh D ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của Bùi Thị P là có căn cứ, đúng theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lưu Ngọc Thảo Nhi, sinh ngày 15/9/2021, Bùi Thị P yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi con và không yêu cầu Lưu Thanh D cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay Bùi Thị P đang trực tiếp nuôi Lưu Ngọc Thảo Nhi, việc giao Lưu Ngọc Thảo Nhi cho ai nuôi phải xem xét điều kiện nuôi con, Bùi Thị P đang trực tiếp nuôi con tốt, có đủ điều kiện nuôi con và Lưu Ngọc Thảo Nhi chưa đủ 36 tháng tuổi nên cần chấp nhận yêu cầu của Bùi Thị P là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Lưu Thanh D không trực tiếp nuôi con, phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình, nhưng Bùi Thị P không yêu cầu Lưu Thanh D cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản khi ly hôn: Bùi Thị P không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ khi ly hôn: Bùi Thị P không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tiền tạm ứng án phí, án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Bùi Thị P. Bùi Thị P được ly hôn với Lưu Thanh D.

2. Về con chung: Bùi Thị P được tiếp tục nuôi con tên Lưu Ngọc Thảo Nhi, sinh ngày 15/9/2021. Lưu Thanh D không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bùi Thị P và các thành viên trong gia đình không được cản trở Lưu Thanh D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung khi ly hôn.

3. Án phí và tạm ứng án phí sơ thẩm: Bùi Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0010556, ngày 05/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 27/12/2022). Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án này được giao cho họ hoặc được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ