vanban.org

Bản án 69/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Hồ Thị H được ly hôn với anh Quách Văn Th.

Về con chung: Giao con chung Quách Bảo L - sinh ngày 19/04/2018 cho chị Hồ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn H - T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Hồ Thị H được ly hôn với anh Quách Văn Th.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN E
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2022/HNGĐ-ST
Ngày 31 - 8 -2022.
“V/v: Kiện ly hôn và tranh chấp
về nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN E

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Tuyển và ông Nguyễn Khắc Vũ.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hằng Nga - Cán bộ Toà án nhân dân huyện E.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện E tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 31/8/2022 tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân huyện E xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 217/2022/TLST-HNGĐ, ngày 03/06/2022 về việc “Kiện ly hôn và tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2022/QĐST-HNGĐ ngày 08/08/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2022/QĐST-HNGĐ ngày 23/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện E, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị H - sinh năm 1992; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 2, xã N, huyện E, tỉnh Đăk Lăk; Chỗ ở hiện nay: Thôn Tân Phú, xã D, huyện M, tỉnh Đăk Lăk - vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Quách Văn Th - sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn 2, xã N, huyện E, tỉnh Đăk Lăk. Vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hồ Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị H và anh Quách Văn Th tự nguyện về chung sống với nhau từ năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ea Drơng, huyện M, tỉnh Đăk Lăk vào ngày 02 tháng 10 năm 2017.

Khi về chung sống với nhau thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng cãi nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tình cảm gia đình ngày càng lạnh nhạt. Cuộc sống gia đình không thể kéo dài. Đến nay, chị H cảm thấy không thể tiếp tục cuộc hôn nhân với anh Th nên chị H yêu cầu tòa án giải quyết cho chị H ly hôn với anh Quách Văn Th.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị Hồ Thị H và anh Quách Văn Th có 01 con chung là: Quách Bảo L - sinh ngày 19/04/2018.

Nếu Tòa án giải quyết ly hôn, chị H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi đủ tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Hồ Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản và nợ chung: Chị Hồ Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ anh Quách Văn Th đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng anh Quách Văn Th vẫn vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Th về yêu cầu khởi kiện của chị H. Tại phiên tòa, anh Th vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình thu thập tài liệu chứng cứ, Tòa án đã thu thập đầy đủ và đúng trình tự theo quy định pháp luật về tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đầy đủ, đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện việc chị H khởi kiện yêu cầu ly hôn là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị H về việc ly hôn với anh Quách Văn Th. Về con chung: đề nghị giao con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: Chị H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục: Chị Hồ Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung với anh Quách Văn Th là “Kiện ly hôn và tranh chấp về nuôi con chung”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện E theo quy định tại Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Quách Văn Th đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ 2, nhưng anh Quách Văn Th vẫn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn chị Hồ Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải được và tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị H và anh Quách Văn Th chung sống với nhau từ năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện E, tỉnh Đăk Lăk theo giấy chứng nhận kết hôn số 180, quyển số 120/2017 ngày 02/10/2017 là trên cơ sở tự nguyện, nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Qua xác minh tại chính quyền địa phương nơi chị H và anh Th sinh sống, thì không rõ mâu thuẫn giữa chị H và anh Th. Tuy nhiên, chị H và anh Th đã không còn chung sống với nhau khoảng 1 năm nay. Mặt khác, chi H cho rằng cuộc sống gia đình có nhiều mâu thuẫn, ngày càng lạnh nhạt, hôn nhân không thể tiếp tục. Xét thấy, giữa hai bên không còn tình cảm và tôn trọng lẫn nhau , mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc chị H yêu cầu ly hôn với anh Th là có căn cứ, cần chấp nhận.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị H và anh Th có với nhau 01 con chung là Quách Bảo L - sinh ngày 19/04/2018.

Nguyện vọng của chị H là muốn được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Th không có mặt tại Tòa án để thể hiện ý chí của mình về quan hệ hôn nhân và yêu cầu về việc nuôi dưỡng con chung. Do đó cần thiết giao các con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi ly hôn là phù hợp với nguyện vọng của chị H và đảm bảo quyền lợi của con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết

Anh Th có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí HNGĐ-ST, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 144, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Cho chị Hồ Thị H được ly hôn với anh Quách Văn Th.

- Về con chung: Giao con chung Quách Bảo L - sinh ngày 19/04/2018 cho chị Hồ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Anh Quách Văn Th có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và trợ cấp phí tổn nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

- Về án phí:

Chị Hồ Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí HNGĐ-ST, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án huyện E theo Biên lai số 60AA/2021/0000908 ngày 25/5/2022.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được quy định theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được Thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ