vanban.org

Bản án 69/2022/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Kim H. Buộc bà Trần Thị K và ông Lê Hoàng T phải trả cho bà Lê Kim H số tiền là: 124.

Kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà K, ông T chậm thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng bà K, ông T còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Lê Kim H - Trần Thị K"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Kim H. Buộc bà Trần Thị K và ông Lê Hoàng T phải trả cho bà Lê Kim H số tiền là: 124.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2022/DS-ST
Ngày 12 - 5 - 2022
V/v tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Dũng Liêm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Hà.

Ông Nguyễn Văn Hiển.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Kim Thia là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Ngày 12 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 28/2022/TLST-DS ngày 27 tháng 01 năm 2022 về việc “tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2022/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Kim H, sinh năm 1963. Địa chỉ: Ấp Tân A, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn:

1. Bà Trần Thị K, sinh năm 1972. Địa chỉ: Ấp Tân A, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

2. Ông Lê Hoàng T, sinh năm 1979. Địa chỉ: Ấp Tân A, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn K. Địa chỉ: Ấp Tân A, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Lê Kim H trình bày:

Bà là chủ hụi có mở 03 dây hụi, ông T, bà K có vô mỗi dây 04 chưng, tổng cộng 12 chưng cụ thể:

Dây 01: Mở ngày 10/11/2017 âm lịch, loại hụi 01 triệu, có 42 chưng, ông T, bà K vô 04 chưng, dây hụi này đã mãn cụ thể:

Chưng 01: Hốt ngày 10/11/2017 âm lịch, chết 01 chưng, sống 41 chưng, bỏ bao nhiêu, chung bao nhiêu bà không nhớ nhưng có trừ tiền đầu thảo là 600.000 đồng, sau khi hốt thì đóng lại đến ngày 20/7/2020 âm lịch được 32 kỳ, còn thiếu lại từ ngày 20/8/2020 âm lịch đến 20/4/2021 âm lịch là 09 kỳ = 9.000.000 đồng.

Chưng 2: Hốt ngày 10/01/2018 âm lịch, giao ngày 20/01/2018; chết 03 chưng, sống 39 chưng, bỏ bao nhiêu, chung bao nhiêu bà không nhớ nhưng có trừ tiền đầu thảo là 600.000 đồng, sau khi hốt thì đóng lại đến ngày 20/7/2020 âm lịch được 30 kỳ, còn thiếu lại từ ngày 20/8/2020 âm lịch đến 20/4/2021 âm lịch 09 kỳ = 9.000.000 đồng.

Chưng 3: Hốt ngày 10/3/2018 âm lịch, giao ngày 20/3/2018; chết 05 chưng, sống 37 chưng, bỏ bao nhiêu, chung bao nhiêu bà không nhớ nhưng có trừ tiền đầu thảo là 600.000 đồng, sau khi hốt thì đóng lại đến ngày 20/7/2020 âm lịch được 28 kỳ, còn thiếu lại từ ngày 20/8/2020 âm lịch đến 20/4/2021 âm lịch 09 kỳ = 9.000.000 đồng.

Chưng 4: Hốt ngày 10/5/2018 âm lịch, giao ngày 20/5/2018 âm lịch; chết 07 chưng, sống 35 chưng, bỏ bao nhiêu, chung bao nhiêu bà không nhớ nhưng có trừ tiền đầu thảo là 600.000 đồng, sau khi hốt thì đóng lại đến ngày 20/7/2020 âm lịch được 26 kỳ, còn thiếu lại từ ngày 20/8/2020 âm lịch đến 20/4/2021 âm lịch 09 chưng = 9.000.000 đồng.

Số tiền bà K, ông T thiếu ở dây 1 là 9.000.000 đồng x 4 = 36.000.000 đồng.

Dây 2: Mở ngày 15/10/2018 âm lịch, loại hụi 01 triệu, có 40 chưng, ông T, bà K có vô 04 chưng; dây hụi này đã mãn cụ thể:

Chưng 1: Hốt ngày 15/10/2018 âm lịch, giao ngày 25/10/2018 âm lịch, chết 01, sống 39 chưng, bỏ bao nhiêu, chung bao nhiêu bà không nhớ nhưng có trừ tiền đầu thảo là 600.000 đồng, sau khi hốt thì đóng đến ngày 25/7/2020 âm lịch được 22 kỳ, còn thiếu lại từ ngày 25/8/2020 âm lịch đến ngày 25/12/2021 âm lịch là 17 chưng = 17.000.000 đồng.

Chưng 2: Hốt ngày 15/11/2018 âm lịch, giao ngày 25/11/2018 âm lịch, chết 02 chưng, sống 38 chưng, bỏ bao nhiêu, chung bao nhiêu bà không nhớ nhưng có trừ tiền đầu thảo là 600.000 đồng, sau khi hốt thì đóng đến ngày 25/7/2020 âm lịch được 21 kỳ, còn thiếu lại từ ngày 25/8/2020 âm lịch đến ngày 25/12/2021 âm lịch là 17 chưng = 17.000.000 đồng.

Chưng 3: Hốt ngày 15/01/2019 âm lịch, giao ngày 25/01/2019 âm lịch, chết 04 chưng, sống 36 chưng, bỏ bao nhiêu, chung bao nhiêu bà không nhớ nhưng có trừ tiền đầu thảo là 600.000 đồng, sau khi hốt thì đống đến ngày 25/7/2020 âm lịch được 19 kỳ, còn thiếu lại từ ngày 25/8/2020 âm lịch đến ngày 25/12/2021 âm lịch là 17 chưng = 17.000.000 đồng.

Chưng 4: Hốt ngày 15/02/2019 âm lịch, giao ngày 25/02/2019 âm lịch, chết 05 chưng, sống 35 chưng, bỏ bao nhiêu, chung bao nhiêu bà không nhớ nhưng có trừ tiền đầu thảo là 600.000 đồng, sau khi hốt thì đóng đến ngày 25/7/2020 âm lịch được 18 kỳ, còn thiếu lại từ ngày 25/8/2020 âm lịch đến ngày 25/12/2021 âm lịch là 17 chưng = 17.000.000 đồng.

Số tiền bà K, ông T thiếu ở dây 2 là 17.000.000 đồng x 4 = 68.000.000 đồng.

Dây 3: Mở ngày 30/01/2020 âm lịch, loại hụi 01 triệu, có 34 chưng, ông T, bà K vô 04 chưng, hụi này đến 30/10/2022 âm lịch mới mãn cụ thể:

Chưng 01: Hốt ngày 30/01/2020 âm lịch, giao ngày 10/02/2020 âm lịch, chết 01chưng, sống 33 chưng, bỏ bao nhiêu, chung bao nhiêu bà không nhớ nhưng có trừ tiền đầu thảo là 600.000 đồng, sau khi hốt thì đóng đến ngày 10/8/2020 âm lịch được 07 kỳ, còn thiếu lại từ ngày 10/9/2020 âm lịch đến ngày 10/12/2021 âm lịch là 16 chưng = 16.000.000 đồng.

Chưng 02: Hốt ngày 30/3/2020 âm lịch, giao ngày 10/4/2020 âm lịch, chết 03 chưng, sống 31 chưng, bỏ bao nhiêu, chung bao nhiêu bà không nhớ nhưng có trừ tiền đầu thảo là 600.000 đồng, sau khi hốt thì đóng đến ngày 10/8/2020 âm lịch được 05 kỳ, còn thiếu lại từ ngày 10/9/2020 âm lịch đến ngày 10/12/2021 âm lịch là 16 chưng = 16.000.000 đồng.

Chưng 3: Hốt ngày 30/5/2020 âm lịch, giao ngày 10/6/2020 âm lịch, chết 05 chưng, sống 29 chưng, bỏ bao nhiêu, chung bao nhiêu bà không nhớ nhưng có trừ tiền đầu thảo là 600.000 đồng, sau khi hốt thì đóng đến ngày 10/8/2020 âm lịch được 03 kỳ, còn thiếu lại từ ngày 10/9/2020 âm lịch đến ngày 10/12/2021 âm lịch là 16 chưng = 16.000.000 đồng.

Chưng 4: Hốt ngày 20/8/2020 âm lịch, giao ngày 10/9/2020 âm lịch, chết 08 chưng, sống 26 chưng, bỏ bao nhiêu, chung bao nhiêu bà không nhớ nhưng có trừ tiền đầu thảo là 600.000 đồng, sau khi hốt thì không đóng hụi chết, còn thiếu lại từ ngày 10/9/2020 âm lịch đến ngày 10/12/2021 âm lịch là 16 chưng = 16.000.000 đồng.

Số tiền bà K, ông T thiếu ở dây 3 là 16.000.000 đồng x 4 = 64.000.000 đồng.

Tổng số tiền bà K, ông T thiếu ở cả 03 dây là 168.000.000 đồng. Bà K đã trả 20/12/2020 = 2.000.000 đồng; 20/01/2021 = 2.000.000 đồng; 20/02/2021 = 2.000.000 đồng; 20/3/2021 = 2.000.000 đồng; 20/4/2021 = 2.000.000 đồng; 20/9/2021 = 2.000.000 đồng. Ngày 10/11/2021, cha chồng của bà K là ông Lê Văn K ở ấp Tân A, xã T, huyện Đ có trả cho bà K 30.000.000 đồng.

Tổng số tiền bà K trả là 44.000.000 đồng, đối trừ số tiền còn thiếu lại là 124.000.000 đồng.

Nay bà H yêu cầu bà K, ông T thanh toán số tiền trên cho bà.

Ngoài ra do dây 3 còn 10 tháng mới mãn, tổng số tiền là 04 chưng x 10.000.000 đồng = 40.000.000 đồng, do khi khởi kiện hụi chưa khui nên bà chưa yêu cầu.

Đối với giấy ghi tên Trần Thúy Kiều, do bà K ghi nội dung (tên Trần Thúy Kiều do bà tự ghi) có chốt nợ đến khi mãn hụi là 164.000.000 đồng gồm 124.000.000 đồng bà đang khởi kiện và 40.000.000 tiền hụi chết ở dây 3 ngày 30/01/2020 nêu trên.

Bị đơn bà Trần Thị K trình bày:

Bà thống nhất lời trình bày của nguyên đơn về việc vợ chồng bà có tham gia chơi hụi ở 03 dây hụi, loại hụi 01 triệu do bà H làm chủ hụi, mỗi dây ông bà tham gia 04 chưng, thời gian mở các dây hụi, thời gian ông bà hốt hụi, số chưng hụi ở các dây đúng như nguyên đơn trình bày. Quá trình hốt hụi và đóng hụi chết ông bà còn thiếu bà H ở các dây hụi trên tổng số tiền 124.000.000 đồng tính đến ngày 10/12/2021 âm lịch. Nay bà đồng ý cùng ông T thanh toán số nợ này cho bà H. Tuy nhiên do hoàn cảnh khó khăn nên bà yêu cầu được trả dần số nợ trên mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.

Đối với số tiền 30.000.000 đồng, ông Lê Văn K ở ấp Tân A, xã T, huyện Đ là cha chồng của bà trả cho bà H, đây là số tiền ông K cho bà để trả nợ, trả vào ngày 10/12/2021 âm lịch.

Đối với giấy ghi tên Trần Thúy K, do bà ghi có nội dung chốt nợ đến khi mãn hụi là 164.000.000 đồng gồm 124.000.000 đồng bà H đang khởi kiện và 40.000.000 tiền hụi chết ở dây 3 ngày 30/01/2020 chưa khui, đối với hụi chưa khui bà không đồng ý thanh toán (tên Trần Thúy K do bà H ghi).

Bà xác định từ trước đến nay bà tên Trần Thị K, không có tên Trần Thúy Kiều.

Đối với bị đơn ông Lê Hoàng T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn K: Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T, ông K nhưng ông T, ông K không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ hụi là 124.000.000 đồng, không đồng ý yêu cầu trả dần của bà K.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Bà Trần Thị K có đơn xét xử vắng mặt, ông Lê Hoàng T, ông Lê Văn K đã được triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định.

[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hụi và thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Xét yêu cầu trả số tiền nợ 124.000.000 đồng, thấy rằng: Quá trình giải quyết vụ án bà K thừa nhận có tham gia chơi hụi do bà H làm chủ hụi, hiện nay còn nợ số tiền hụi như nguyên đơn trình bày và đồng ý cùng ông T trả số nợ trên cho bà H. Đối với ông Lê Hoàng T Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T nhưng ông không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền trên là có căn cứ, được chấp nhận.

Xét yêu cầu của bà K về việc được trả dần số nợ trên, mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi hết nợ, tại phiên tòa nguyên đơn không đồng ý. Xét thấy: Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ nêu trên là phù hợp, đúng quy định, do đó không chấp nhận yêu cầu được trả dần của bà K.

Đối với ông Lê Văn K, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông nhưng ông không có ý kiến hay yêu cầu gì liên quan đến số tiền 30.000.000 đồng đã trả cho bà H nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Trần Thị K, ông Lê Hoàng T có trách nhiệm trả cho bà Lê Kim H số tiền là: 124.000.000 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Theo khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà K, ông T phải chịu là: 6.200.000 đồng (124.000.000 đồng x 5%).

Bà Lê Kin Hiền không phải chịu, đã dự nộp được nhận lại toàn bộ.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Kim H. Buộc bà Trần Thị K và ông Lê Hoàng T phải trả cho bà Lê Kim H số tiền là: 124.000.000 đồng (một trăm hai mươi bốn triệu đồng).

Kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà K, ông T chậm thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng bà K, ông T còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Lê Kim H không phải chịu. Hoàn trả lại cho bà H 3.100.000 đồng (ba triệu một trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011941 ngày 27 tháng 01 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.

- Bà Trần Thị K và ông Lê Hoàng T phải chịu 6.200.000 đồng (sáu triệu hai trăm nghìn đồng) (chưa nộp).

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ