- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q. Buộc ông Lê Minh T, bà Phương Thị Thanh H trả cho Ngân hàng tiền vay đến hết ngày 26/9/2022 là: 359.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2022/DS-ST Ngày: 27-9-2022. “V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Triệu.
2. Ông Sơn Nhật Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huê – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 86/2022/TLST-DS ngày 21 tháng 12 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2022/QĐST-DS ngày 31 tháng 8 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q.
Trụ sở: Tầng 6, Tòa nhà P, số 26, đường U, phường 25, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn Q, sinh năm 1994 – theo văn bản uỷ quyền ngày 23/9/2021 (Có mặt).
Địa chỉ: Tầng 6, Tòa nhà P, số 26, đường U, phường 25, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn:
1/ Ông Lê Minh T, sinh năm 1983; (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Thông Lưu, xã Hòa Minh, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
2/ Bà Phương Thị Thanh H, sinh năm 1983; (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số 76/36/3, đường T, phường 16, quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 9 năm 2021, và trong quá trình tố tụng người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q có ý kiến trình bày và yêu cầu:
Ngân hàng TMCP Q có ký với anh T, chị H hợp đồng tín dụng số: 072.HĐTD.665.18 ngày 06/02/2018 với nội dung:
+ Số tiền giải ngân: 477.000.000đ;
+ Mục đích giải ngân: Thanh toán mua xe 01 xe ôtô nhãn hiệu Ford Ecosport;
+ Lãi suất thời điểm giải ngân: 8.29%/năm (lãi suất này là lãi suất ưu đãi); hết thời hạn ưu đãi lãi suất sẽ được điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở cộng biên độ 4.09%/năm.
Trong quá trình vay anh T, chị H đã thanh toán được vốn gốc: 193.830.000đ và lãi suất: 139.244.280đ;
Nay Ngân hàng TMCP Q yêu cầu ông Lê Minh T và bà Phương Thị Thanh H có nghĩa vụ trả cho ngân hàng số tiền bằng 295.925.578 đồng, trong đó vốn gốc bằng 283.170.000 đồng, lãi, phạt bằng 12.078.067 đồng.
- Bị đơn ông Lê Minh T, bà Phương Thị Thanh H không có lời trình bày.
- Tại phiên tòa sơ thẩm:
Người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không thay đổi, bổ sung hoặc rút đơn yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Ngân hàng TMCP Q có đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Lê Minh T cư trú tại ấp T, xã H, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, bà Phương Thị Thanh H cư trú tại số 76/36/3 đường T, phường 16, quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
Xét về thời hiệu khởi kiện, ông T, bà H đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền vay từ ngày 13/9/2021, nên ngày 23/9/2021 Ngân hàng TMCP Q nộp đơn khởi kiện tại Tòa án, là đúng quy định tại khoản 1 Điều 149 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Bị đơn ông Lê Minh T, bà Phương Thị Thanh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập đến Tòa ghi bản tự khai, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng đều vắng mặt nên căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử mở phiên tòa xét xử vắng mặt bị đơn nêu trên.
Về nội dung:
Xét, yêu cầu của Ngân hàng TMCP Q đòi ông Lê Minh T, bà Phương Thị Thanh H trả số tiền nợ gốc là 283.170.000 đồng; Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP Q tại Tòa; Xét thấy, có đủ cơ sở xác định ngày 06 tháng 02 năm 2018, ông T, bà H có ký hợp đồng tín dụng số 072.HĐTD.665.18 vay Ngân hàng TMCP Q số tiền bằng 477.000.000 đồng; việc thỏa thuận giữa Ngân hàng TMCP Q và ông T, bà H phù hợp với quy định tại điểm a Khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng nên có hiệu lực pháp luật. Tại Tòa người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP Q cho biết sau khi được cấp tín dụng, ông T, bà H có trả được lãi trong hạn cho Ngân hàng và số tiền gốc 193.830.000 đồng; ông T, bà H còn nợ Ngân hàng là 283.170.000 đồng. Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho ông T, bà H, nhưng ông T, bà H không đến Tòa án trình bày ý kiến và không có văn bản trả lời phản bác các yêu cầu của Ngân hàng, coi như ông T, bà H từ bỏ quyền được yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích pháp của mình; Do đó, yêu cầu của Ngân hàng đòi ông T, bà H trả số tiền nợ gốc 283.170.000 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 1, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng nên có cơ sở chấp nhận.
Xét, yêu cầu của Ngân hàng TMCP Q đòi ông T, bà H trả tiền lãi trong hạn bằng 5.060.331 đồng và lãi quá hạn đến ngày 26 tháng 9 năm 2022 là 71.101.194 đồng và tiền lãi phát sinh sau ngày Tòa xử; Tại Tòa người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng giải trình do ông T, bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn. Việc chuyển nợ quá hạn và cách tính tiền lãi của Ngân hàng phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng và thỏa thuận của hai bên trong Hợp đồng; Do đó, yêu cầu của Ngân hàng TMCP Q đòi ông T, bà H trả tiền lãi trong hạn 5.060.331 đồng, lãi quá hạn tính đến ngày 26 tháng 9 năm 2022 là 71.101.194 đồng và tiền lãi phát sinh sau ngày Tòa xử là có cơ sở chấp nhận.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ông T, bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Ngân hàng TMCP Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 91, Khoản 1 Điều 95 và điểm a Khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 323, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điểm đ, khoản 2, Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q. Buộc ông Lê Minh T, bà Phương Thị Thanh H trả cho Ngân hàng tiền vay đến hết ngày 26/9/2022 là: 359.331.525 đồng. (Trong đó: vốn gốc: 283.170.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 5.060.331 đồng và lãi quá hạn: 71.101.194 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (27/9/2022), ông Lê Minh T, bà Phương Thị Thanh H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay, thì lãi suất mà ông Lê Minh T, bà Phương Thị Thanh H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Về án phí:
- Ông Lê Minh T, bà Phương Thị Thanh H phải chịu 17.966.500 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.
- Ngân hàng TMCP Q không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.359.000 đồng theo biên lai số 0008575 ngày 14 tháng 12 năm 2021, đại diện Ngân hàng TMCP Q nhận lại tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành.
3. Án xử sơ thẩm báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân xã, phường nơi đương sự cư trú.
Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKS ND H. Châu Thành; - Cc. THA DS H. Châu Thành; - Các đương sự; - Lưu HS (VP). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hoàng Nguyên |