vanban.org

Bản án 69/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 24/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Bùi Anh T, Nguyễn Văn Đ và Trịnh Thị H phạm tội “Cƣỡng đoạt tài sản”.

Bị cáo Bùi Anh T 42 (Bốn mƣơi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/12/2020. Bị cáo Nguyễn Văn Đ 27 (Hai mƣơi bảy) tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 54 (Năm mƣơi tƣ) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (24/6/2021).

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Anh Tuấn và đồng phạm phạm Tội cưỡng đoạt tài sản - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Bùi Anh T, Nguyễn Văn Đ và Trịnh Thị H phạm tội “Cƣỡng đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 69/2021/HSST
Ngày: 24 - 6 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hiền.

Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Tú.

Bà Đồng Thị Thanh Hƣơng.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Giang, Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Mai Việt Hùng, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2021/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2021. Theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 58/2021/QĐXX-HS ngày 11 tháng 6 năm 2021 đối với các ị cáo:

1. Họ và tên: Bùi Anh T (Tên gọi khác: Không) sinh năm 1983 tại Ninh Bình; nơi cƣ trú: Thôn NH, xã KH, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp trƣớc khi bị bắt: Phóng viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Anh D và bà Bùi Thị H; vợ: Triệu Thị Diệp Ƣ (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại Quyết định số 17/QĐ-XPHC ngày 12/3/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phƣờng NS, thành phố Ninh Bình xử phạt hành chính “Cảnh cáo” về hành vi đánh ạc.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/12/2020 đến ngày 07/12/2020 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay. “Có mặt”.

2. Họ và tên: Nguyễn Văn Đ, (Tên gọi khác: Không) sinh năm 1998 tại Thanh Hóa; nơi cƣ trú: Số nhà C, đƣờng PBC, khu phố ST, phƣờng TS, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ê và bà Nguyễn Thị Ơ; vợ, con: Chƣa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/12/2020 đến ngày 07/12/2020 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Ninh Bình, đến ngày 21/4/2021 đƣợc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “ ảo lĩnh” cho đến nay. “Có mặt”.

3. Họ và tên: Trịnh Thị H (Tên gọi khác: Không) sinh năm 1998 tại Thanh Hóa; nơi cƣ trú: Thôn MD, xã HK, huyện HH, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Quốc I và bà Trịnh Thị N; chồng, con: Chƣa có: tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cƣ trú” từ ngày 18/3/2021 cho đến nay. “Có mặt”.

Bị hại: Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình.

Ngƣời đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn Ê - Giám đốc Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình.

Ngƣời đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc C - Trƣởng phòng tổ chức cán bộ Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình. (Văn ản ủy quyền ngày 01 tháng 12 năm 2020 của Giám đốc Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình). “Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt”.

Người làm chứng: Anh Nguyễn Đức A, anh Phạm Văn T, anh Vũ Duy Y, anh Nguyễn Long S, chị Trƣơng Thị Ngọc L. “Vắng mặt”.

NỘI DUNG V N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn iến tại phiên t a, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Bùi Anh T là phóng viên tham gia cộng tác tin bài với báo Pháp luật Việt Nam khu vực 4 tỉnh Nam Định - Hà Nam - Ninh Bình - Thái Bình, còn Nguyễn Văn Đ, Trịnh Thị H đang là sinh viên trƣờng Học viện báo trí và tuyên truyền Hà Nội đi theo Bùi Anh T học việc. Trong quá trình làm việc, T, Đ, H thƣờng đi đến nhiều địa điểm trên địa bàn 04 tỉnh nói trên thu thập thông tin về các lĩnh vực làm tƣ liệu viết ài đăng lên áo.

Ngày 22/11/2020, Bệnh nhân Quách Thị X sinh năm 1933; trú tại xã SH, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình điều trị tại Khoa nội tim mạch, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình đƣợc y, bác sỹ của bệnh viện kê phiếu để mua hộp sữa hiệu Max Gold tại quầy thuốc của bệnh viện với giá 847.000 đồng. Sau khi mua sữa xong, ngƣời nhà bệnh nhân X mở nắp hộp sữa thì phát hiện tại nắp bên trong của hộp sữa có dấu hiệu bị mốc đen, không đảm bảo chất lƣợng nên đã thông tin cho chị Phạm Thị Hƣơng Q sinh năm 1979, ở số nhà B, phố VM, phƣờng NT, thành phố Ninh Bình là ngƣời nhà của bà X biết. Sau đó, chị Q lại thông tin sự việc trên cho Bùi Anh T biết. Sau khi nắm đƣợc thông tin trên, Bùi Anh T đã ảo Nguyễn Văn Đ, Trịnh Thị H và những ngƣời bạn đang đi cùng T làm công việc tác nghiệp trên đƣờng DT 477 tuyến Gia Viễn - Nho Quan là Vũ Duy Y sinh năm 1986, trú tại Đội S, thôn KĐ, xã VT, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình; Nguyễn Đức A sinh năm 1993 trú tại thôn KC, xã GP, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình; Phạm Văn T sinh năm 1986, trú tại số nhà H, ngõ T, đƣờng PK, phƣờng TV, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Nguyễn Long S sinh năm 1972, trú tại thôn PC, xã KP, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình đi đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình nắm tình hình, ghi nhận thông tin sự việc. Khi thấy nhóm của T tự xƣng là phóng viên đến tác nghiệp liên quan đến vụ việc quầy thuốc bệnh viện kinh doanh sữa kém chất lƣợng nên anh Vũ Tuấn A sinh năm 1980, hiện làm việc tại công ty dƣợc GV – là công ty cung ứng vật tƣ cho ệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình có nhờ bạn là anh Nguyễn Hữu U sinh năm 1985, trú tại phƣờng NT, thành phố Ninh Bình, hiện đang làm việc tại áo Lao động đến bệnh viện xem nhóm ngƣời là ai, có phải nhà báo không. Khi anh U đến, thấy có Bùi Anh T, anh U quay về nói với anh Tuấn A việc nhóm Bùi Anh T là phóng viên báo Pháp luật Việt Nam đến ghi nhận thông tin của vụ việc.

Sau khi nắm thông tin vụ việc, Bùi Anh T chỉ đạo Nguyễn Văn Đ, Trịnh Thị H viết bài dự thảo nội dung liên quan đến những sai phạm của bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình tối ngày 22/11/2020. H đã xây dựng sƣờn nội dung bài viết sau đó gửi cho Đ và T chỉnh sửa rồi H viết lại thành bài hoàn chỉnh. Sau khi đã xây dựng xong bài viết, ngày 23/11/2020, Bùi Anh T báo cáo nội dung sự việc xảy ra tối ngày 22/11/2020 tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình cho anh Nguyễn Sỹ Ô, sinh năm 1990, trú tại phòng H, Khu đô thị VK, phƣờng LK, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, là trƣởng văn ph ng đại diện báo pháp luật Việt Nam tại bốn tỉnh Hà Nam - Nam Định - Ninh Bình - Thái Bình có trụ sở tại thành phố Nam Định và là ngƣời trực tiếp quản lý T. Sau khi nghe T báo cáo nội dung, anh Ô không có chỉ đạo gì liên quan đến vụ việc trên.

Sáng ngày 23/11/2020, anh Vũ Tuấn A nhờ anh Nguyễn Hữu U gọi điện cho Bùi Anh T hỏi thông tin về vụ việc tối ngày 22/11/2020 tại quầy thuốc bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình. Anh U gọi điện thoại cho T nói về việc mình có quan hệ với bệnh viện, nhờ T bỏ qua, không đăng ài viết về những sai phạm của bệnh viện. Khi thấy anh U nói vấn đề bỏ qua cho bệnh viện, T đã nảy sinh ý định sử dụng bài viết để đe dọa bệnh viện phải hỗ trợ tiền cho nhóm T, nếu đƣợc thì sẽ không đăng ài áo. Sau khi nói chuyện với anh U, Bùi Anh T đã gửi qua Zalo cho anh U bản thảo nội dung bài viết và hình ảnh liên quan đến hộp sữa kém chất lƣợng ngày 22/11/2020, mục đích để anh U gửi bài viết trên cho lãnh đạo bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình và biết việc nhóm T đã viết ài liên quan đến sai phạm, vì vậy bệnh viện phải chủ động cho ngƣời liên hệ với nhóm T xin giải quyết, bỏ qua những sai phạm.

Sau khi nhận đƣợc nội dung bài viết liên quan đến sai phạm của bệnh viện từ Bùi Anh T, anh U đã gửi nội dung bài viết cho anh Vũ Tuấn A. Anh Vũ Tuấn A tiếp tục gửi nội dung bài viết cho ông Phạm Văn Ê là Giám đốc bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình để ông Ê có phƣơng án xử lý. Sau khi nhận đƣợc nội dung bài viết, sợ uy tín của bệnh viện sẽ bị ảnh hƣởng, ông Ê chỉ đạo anh Nguyễn Ngọc C sinh năm 1963 là Trƣởng phòng tổ chức Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình gặp để làm việc với nhóm phóng viên viết bài viết và có đƣờng hƣớng xử lý sự việc. Ngày 23/11/2020, sau khi xin đƣợc số điện thoại của Bùi Anh T, anh Nguyễn Ngọc C sử dụng số điện thoại 0912.294.090 gọi đến số điện thoại của T là số 0912.123.555 chủ động hẹn T gặp nhau nói chuyện. Tối ngày 25/11/2020, anh Nguyễn Ngọc C chủ động đặt bàn tại nhà hàng BA, thuộc xã NX, huyện Hoa Lƣ, tỉnh Ninh Bình và mời nhóm T đến ăn. Bùi Anh T nói Đ, H, T, I và Phạm Đức D sinh năm 1994, trú tại Thôn LH, xã KS, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội là bạn của I đi đến nhà hàng ăn uống cùng anh C. Quá trình ăn uống tại nhà hàng BA, Bùi Anh T liên tục nói chuyện với anh C, nhắc đến các sai phạm của bệnh viện cũng nhƣ việc nếu đăng ài viết về vụ việc ngày 22/11/2020 sẽ làm ảnh hƣởng nghiêm trọng đến uy tín của bệnh viện. Anh C sợ uy tín của bệnh viện sẽ bị ảnh hƣởng nên đã xin T bỏ qua những sai phạm của bệnh viện. Quá trình ngồi ăn uống nói chuyện, T ra hiệu cho Đ sử dụng điện thoại di động của Đ quay lại cảnh nói chuyện giữa anh C và T. Thấy anh C xin bỏ qua không đăng ài viết, T nói anh C về đề xuất lãnh đạo bệnh viện hỗ trợ cho nhóm T tiền mua 01 máy quay flycam giá 50.000.000đ (năm mƣơi triệu đồng) để phục vụ công tác tuyên truyền. Đây là số tiền Bùi Anh T đƣa ra ngầm thỏa thuận với anh C, nếu bệnh viện đƣa Bùi Anh T số tiền trên thì T sẽ không đăng ài liên quan đến sai phạm của bệnh viện. Anh C không đồng ý với số tiền trên, anh C đề nghị giảm xuống số tiền 30.000.000đ (Ba mƣơi triệu đồng). Sau đó, anh C và Bùi Anh T thống nhất với nhau về số tiền 30.000.000đ ( a mƣơi triệu đồng) đƣa nhóm T để T không đăng ài áo liên quan đến sai phạm của bệnh viện ngày 22/11/2020. Quá trình ngồi ăn uống tại quán BA thì Nguyễn Văn Đ và Trịnh Thị H nghe Bùi Anh T liên tục nói đến sai phạm của Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình cũng nhƣ việc hộp sữa bán tại quầy thuốc bệnh viện bị mốc và T đặt vấn đề bệnh viện hỗ trợ cho nhóm T mua máy Flycam, Đ và H biết rõ mục đích của T là lợi dụng sai phạm của Bệnh viện để uy hiếp, đe dọa bệnh viện hỗ trợ tiền cho nhóm T thì sẽ không đăng ài, iết là vi phạm pháp luật nhƣng Đ và H vẫn không có phản ứng vì biết mình sẽ cùng đƣợc hƣởng lợi ích khi bệnh viện đƣa tiền cho Bùi Anh T. Đến sáng ngày 30/11/2020, do chƣa thấy anh C thông tin lại, Bùi Anh T tiếp tục sử dụng số điện thoại 0912.123.555 gọi cho anh C mục đích để thúc giục hỏi anh C về việc anh C đề xuất lãnh đạo bệnh viện xin số tiền nhƣ đã thỏa thuận để đƣa tiền cho nhóm T chƣa. Anh C hẹn gặp T để trao đổi cụ thể nội dung sự việc. Sáng ngày 01/12/2020, T và anh C hẹn nhau và ngồi uống nƣớc tại quán cafe SM thuộc phố M, phƣờng ĐT, thành phố Ninh Bình. Tại đây, anh C nói với T về việc xin đề xuất lãnh đạo bệnh viện khó khăn, không thể đƣa số tiền nhƣ đã nói với T tối ngày 25/11/2020. T tiếp tục đe dọa anh C về việc nhóm T và Tài không biết có đăng ài hay không, khi nghe Bùi Anh T việc đăng ài, anh C sợ không đƣa tiền nhƣ đã thỏa thuận với T thì nhóm T sẽ đăng ài viết sẽ làm ảnh hƣởng nghiêm trọng đến uy tín của Bệnh viện nên anh C đồng ý thống nhất chiều ngày 01/12/2020 sẽ đƣa tiền hỗ trợ cho T.

Khoảng 12 giờ ngày 01/12/2020, Bùi Anh T, Nguyễn Văn Đ, Trịnh Thị H và Nguyễn Long S đến nhà hàng TP tại phố M, phƣờng ĐT, thành phố Ninh Bình ngồi ăn cơm trƣa. Sau khi ăn xong, T có nói với Đ và H chờ anh C đến gặp nhƣ hôm trƣớc đã thỏa thuận, khi nghe T nói vậy thì Đ và H đều hiểu đợi anh C đến để đƣa tiền. Sau đó, T sử dụng điện thoại gọi cho anh C hẹn anh C đến nhà hàng TP mục đích gọi anh C đến đƣa tiền. Đến khoảng 17 giờ ngày 01/12/2020, anh C đi đến nhà hàng TP gặp T mang theo một phong bì kẹp bên trong một tờ báo, bên trong phong bì có số tiền 30.000.000đ (Ba mƣơi triệu đồng). Vào nhà hàng TP, anh C tiến về phía T đang ngồi cùng Đ ở tầng 1, gặp T anh C lấy phong bì từ trong tờ áo ra đƣa cho T và nói “Không đăng ài chống viện anh nữa nhá” T cầm phong bì rồi nói “Không anh”. Sau khi đƣa tiền cho T, anh C để lại tờ báo trên bàn uống nƣớc và rời khỏi quán. T lấy tờ báo kẹp phong bì vào trong rồi luồn tay xuống gầm àn đƣa cho Đ tờ báo bên trong có phong bì tiền nói Đ đi vứt phong ì đi cầm tiền lại (ý của T là vứt vỏ phong ì đi và giữ tiền lại). Đ nhận tờ báo bên trong có phong bì tiền từ T sau đó cất giấu trong áo khoác và đi vào nhà vệ sinh nam của nhà hàng, vứt tờ báo vào thùng rác, xé vỏ phong bì vứt vào bồn cầu và cầm tiền mang vào cho T. Khi Đ vừa đi vào nhà vệ sinh, lực lƣợng Công an thành phố Ninh Bình đến tiến hành bắt quả tang T, lúc này Đ vừa vứt phong bì và cầm tiền đi vào trong nhìn thấy lực lƣợng Công an đến bắt giữ T, thấy vậy Đ cầm số tiền 30.000.000đ vứt ra khu vực hành lang trƣớc cửa kho của nhà hàng và ra bàn khác ngồi nhƣng ị Cơ quan Công an đã phát hiện và bắt giữ. Quá trình bắt giữ, Đ đã khai báo toàn bộ hành vi vi phạm. Cơ quan Công an thành phố Ninh Bình đã tiến hành lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang đối với T và Đ, sau đó đƣa T, Đ và H cùng những ngƣời liên quan khác về trụ sở Công an thành phố Ninh Bình làm việc.

Sau khi bắt giữ Bùi Anh T và Nguyễn Văn Đ, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Ninh Bình đã tiến hành khám nghiệm hiện trƣờng và thu giữ tại phòng vệ sinh nam 01 phong bì màu trắng đã ị xé, ẩm ƣớt ở nền nhà vệ sinh; 01 mảnh giấy xé phong bì ẩm ƣớt trong bồn cầu nhà vệ sinh; 01 tờ giấy áo đã qua sử dụng đƣợc gập lại, kích thƣớc (30x22)cm loại báo nhân dân ở trong thùng rác bằng kim loại. Tiến hành kiểm tra phía bắc của hành lang, khu vực phía trƣớc nhà kho và nhà vệ sinh nữ phát hiện và thu giữ tại vị trí cách tấm đệm 0,15m, cách cửa nhà kho 1,3m 01 tập tiền polime mệnh giá 500.000đ màu xanh đƣợc buộc bằng sợi dây chun là vật chứng của vụ án mà Nguyễn Văn Đ khi thấy cơ quan công an phát hiện bắt giữ T thì Đ đã ném đi để tiêu hủy chứng cứ.

* Tiến hành khám xét ngƣời, phƣơng tiện xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Spark Biển kiểm soát 35D- 006.29 do Nguyễn Văn Đ điều khiển, cơ quan điều tra thu giữ: 01 xe ô tô biển kiểm soát 35D - 006.29, nhãn hiệu Chevrolet Spark; 06 giấy giới thiệu có mã số 0000976/PLVN; 0000968/PLVN; 0000952/PLVN; 000962/PLVN; 0000961/PLVN; 001440/PLVN; 02 Hóa đơn thu phí có số phiếu thu 1495841; 1495816 mang tên Nguyễn Văn Đ; 01 bản photo giấy chứng nhận phóng viên mang tên Bùi Anh T; 02 biên bản làm việc (bản photo); 01 quyển sổ tay màu đen; 01 bản sao bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông của Nguyễn Văn Đ; 01 bản sao sổ hộ khẩu mang tên chủ hộ Nguyễn Văn Ê; 01 bản photo đơn đề nghị của ông Phạm Ngọc Q; 02 đơn kiến nghị (bản photo); 01 đơn phản ánh của công ty khí đốt TL; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô ( ản sao) Biển kiểm soát 35D-006.29; 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô Biển kiểm soát 35D-006.29; 2 bản sao căn cƣớc công dân, chứng minh nhân dân của Nguyễn Văn Đ và Trịnh Thị H; 01 túi sách giả da màu nâu; 02 thẻ ngân hàng Agribank, Vpbank chủ tài khoản Nguyễn Văn Đ; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn Đ; 01 hộ chiếu mang tên Nguyễn Văn Đ; 01 túi khoác giả da màu đen trên túi có ghi chữ Fusionism; 01 USB màu đỏ đen; 01 laptop nhãn hiệu Dell vostro 5560, màu xám cùng dây sạc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, lắp số sim 0339.041.380; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung lắp số sim 0989.270.798. Ngoài ra, cơ quan điều tra còn khám xét nơi ở của Nguyễn Văn Đ ở số nhà C, phƣờng TS, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa nhƣng không thu giữ đồ vật tài liệu gì liên quan đến vụ án.

* Tiến hành khám xét ngƣời, phƣơng tiện xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger màu xanh Biển kiểm soát 35C-117.33 do Bùi Anh T điều khiển và chỗ ở của Bùi Anh T tại Thôn NH, xã KH, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình cơ quan điều tra thu giữ: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax lắp số sim 0983.999.377; 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S20 ultra LTE lắp số sim 0912.123.555; 01 đồng hồ đeo tay dây giả da màu nâu, thân bằng kim loại màu vàng; 01 xe ô tô biển kiểm soát 35C-117.33, nhãn hiệu Ford Ranger màu xanh; 06 giấy giới thiệu của báo pháp luật Việt Nam để trống nội dung; 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô Biển kiểm soát 35C-117.33 số 3280482; 01 Giấy biên nhận thế chấp của ngân hàng thƣơng mại cổ phần Quốc tế Việt Nam; 01 Bản sao chứng nhận đăng ký xe ô tô số 029880 tên Đoàn Thị B; 01 ví giả da nam kích thƣớc (18x28)cm trên có dòng chữ Laforce; 01 chứng minh thƣ nhân dân số 164134260 mang tên Bùi Anh T; 01 giấy phép lái xe số AV608724 mang tên Bùi Anh T; 19 giấy giới thiệu của báo Pháp luật Việt Nam ghi đầy đủ thông tin đã qua sử dụng; 01 giấy giới thiệu của tạp chí điện tử Hòa Nhập; 01 phiếu lý lịch tƣ pháp số 01 mang tên Bùi Anh T; 01 ví giả da màu nâu trên ví có dòng chữ Elly; 01 Giấy phép lái xe số 370115002786 mang tên Bùi Anh T; 01 Căn cƣớc công dân số 037083004629 mang tên Bùi Anh T; 01 giấy chứng nhận do báo pháp luật Việt Nam cấp số 295/PLVN mang tên Bùi Anh T; 02 Thẻ ngân hàng Agribank mang tên Bùi Anh T; 01 gậy rút kim loại có tay cầm màu đen; 01 thiết bị ghi âm, ghi hình bí mật dạng cúc áo có dòng chữ DGK 445071-RR4LI; 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, không xác định đƣợc số Imei và số sim điện thoại do điện thoại cài mật khẩu; Số tiền 1.868.000 đồng; 01 camera mini màu đen, cùng ộ dây sạc màu đen; một túi clear đựng nhiều giấy tờ; 01 mũ cối màu vàng có gắn Công an hiệu + 01 Công an hiệu; 01 Laptop màu bạc; 01 bộ sạc máy tính, 01 thẻ nhớ màu đen nhãn hiệu Sandisk 128GB; 01 thẻ nhớ ký hiệu “XC” 64GB; 01 túi vải màu đen nhãn hiệu Sony bên trong có 01 máy quay phim nhãn hiệu Sony màu đen; 01 túi vải màu đen nhãn hiệu Nikon bên trong có một máy ảnh nhãn hiệu Nikon màu đen; 01 mào xe taxi bằng nhựa màu vàng; 01 túi vải màu vàng bên trong có 01 thẻ ngân hàng Techcombank tên Triệu Thị Diệp P; 01 Thùng bìa giấy catton kích thƣớc (50x40x40)cm bên trong có nhiều loại giấy tờ; 01 Côn hai khúc bằng gỗ màu nâu có dây nối màu xanh; 01 ống nh m màu đen trắng hình trụ tròn; 01 Sổ hộ khẩu số 430.215.638 mang tên chủ hộ Bùi Anh T; 01 Căn cƣớc công dân mang tên Bùi Thị M; 01 Túi vải màu đen ên trong có 01 chân máy quay nhãn hiệu Wf WEIFENG màu đen; 01 Túi vải màu đen ên trong có 01 Micro nhãn hiệu Panasonic màu đen; 01 Thùng nhựa màu đen ên trong có nhiều loại giấy tờ; 01 Két sắt nhãn hiệu Việt Tiệp màu xanh; 01 Quyển sổ màu nâu nhãn hiệu MEMORIES; 01 Bao da màu nâu hiệu CHEVROLET bên trong có nhiều giấy giới thiệu; 01 bản sao giấy khai sinh mang tên Trịnh Thị H và nhiều loại giấy tờ; 01 hộp kim loại màu bạc trên mặt in chữ SSK, bên trong có 01 thiết bị điện tử màu đen có ký hiệu SSK và 01 dây dẫn dài 15cm; 01 cây máy vi tính nhãn hiệu HP màu đen và nhiều loại giấy tờ khác nhau; 01 hộp card có tên Bùi Anh T; 01 Đầu ghi Camera màu đen nhãn hiệu HIK VISION, 01 thiết bị điện màu bạc nhãn hiệu AC-DC.

Tại ản cáo trạng số 54/CT-VKS ngày 12/5/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố Bùi Anh T, Nguyễn Văn Đ và Trịnh Thị H về tội Cƣỡng đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định nhƣ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên ố các ị cáo Bùi Anh T, Nguyễn Văn Đ và Trịnh Thị H phạm tội: Cƣỡng đoạt tài sản.

- Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Anh T từ 42 đến 48 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/12/2020.

- Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt:

+ Bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 24 đến 27 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 54 tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đ cho Ủy ban nhân dân phƣờng TS, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình ị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phƣơng trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

+ Bị cáo Trịnh Thị H từ 18 đến 21 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 42 tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo H cho Ủy ban nhân dân xã HK, huyện HH, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình ị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phƣơng trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì màu trắng; 01 mảnh giấy xé phong bì; 01 tờ báo giấy.

Tịch thu sung ngân sách nhà nƣớc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S20 ultra LTE thu giữ của Bùi Anh T.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung lắp số sim 0989.270.798.

Trả lại cho Bùi Anh T 01 giấy chứng nhận do báo pháp luật Việt Nam cấp số 295/PLVN mang tên Bùi Anh T.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình nhƣ nội dung bản cáo trạng đã truy tố, các bị cáo không có tranh luận gì với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của ị cáo: Lời khai nhận tội của các ị cáo tại phiên t a phù hợp với lời khai của các ị cáo tại cơ quan điều tra, iên ản ắt ngƣời phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, lời khai của ị hại, ngƣời làm chứng, cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Tối ngày 22/11/2020, nắm đƣợc sự việc quầy thuốc của bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình bán hộp sữa cho bệnh nhân có dấu hiệu bị mốc hỏng. Bùi Anh T với tƣ cách là phóng viên áo Pháp luật Việt Nam đã chỉ đạo Nguyễn Văn Đ, Trịnh Thị H là sinh viên Học viện báo chí và tuyên truyền theo T học việc, viết bài phản ánh về nội dung trên. Sau đó, T tìm cách chuyển thông tin bài viết này đến lãnh đạo Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình nhằm làm cho lãnh đạo bệnh viện sợ nếu bài viết đƣợc đăng lên áo sẽ làm giảm uy tín của bệnh viện, nên từ đó sẽ phải xin nhóm của T, Đ và H không đăng ài. Lợi dụng điều này, nhóm của T sẽ yêu cầu bệnh viện đáp ứng một khoản tiền để cho nhóm mình cùng nhau hƣởng lợi.

Ngày 23/11/2020, sau khi nhận đƣợc nội dung bài viết, lãnh đạo bệnh viện đã chỉ đạo anh Nguyễn Ngọc C, Trƣởng phòng Tổ chức - Hành chính của Bệnh viện trực tiếp liên hệ với Bùi Anh T để xin nhóm của T không đăng ài. Ngày 25/11/2020, anh C trực tiếp gặp nhóm của T để thống nhất số tiền bệnh viện sẽ đƣa cho nhóm nhƣng chƣa giải quyết đƣợc. Từ ngày 25/11/2020 đến ngày 01/12/2020, T nhiều lần gọi điện cho anh C, do nhiều lần bị thúc giục, anh C thống nhất với T chiều ngày 01/12/2020 sẽ đƣa số tiền 30.000.000đ cho T tại nhà hàng TP. Đến 17 giờ ngày 01/12/2020, tại nhà hàng TP ở phố 11, phƣờng ĐT, thành phố Ninh Bình khi T nhận 01 chiếc phong bì bên trong có số tiền 30.000.000đ từ anh C và đƣa cho Đ mang phong bì vào nhà vệ sinh xé phong bì vứt đi, giữ lại tiền còn H đang ngồi bàn bên cạnh thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình phát hiện bắt quả tang.

Hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm chế độ sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức, gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trật tự địa phƣơng. Các bị cáo là những ngƣời có trình độ nhận thức cao, có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự và độ tuổi theo quy định, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Đối chiếu với nội dung bản Cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội các bị cáo nhƣ Kiểm sát viên trình bày tại phiên t a là có căn cứ. Nhƣ vậy, hành vi của các ị cáo Bùi Anh T, Nguyễn Văn Đ và Trịnh Thị H là dùng thủ đoạt khác (đe dọa đăng bài phản ánh về nội dung sự việc tại quầy thuốc của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình) uy hiếp làm giảm uy tín của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình nhằm chiếm đoạt số tiền 30.000.000 đồng của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Cƣỡng đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự.

Vụ án có đồng phạm, nhƣng không thuộc trƣờng hợp có tính tổ chức, vì vậy khi quyết định hình phạt cần xem xét, trách nhiệm hình sự cho phù hợp với hành vi phạm tội của từng bị cáo.

Đối với bị cáo Bùi Anh T là phóng viên, tham gia cộng tác tin bài với báo Pháp luật Việt Nam, bị cáo phải có nghĩa vụ: Thông tin trung thực về tình hình đất nƣớc và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nƣớc và của Nhân dân; phản ánh ý kiến, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân; bảo vệ quan điểm, đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc; phát hiện, tuyên truyền và ảo vệ nhân tố tích cực; đấu tranh ph ng, chống các tƣ tƣởng, hành vi sai phạm. Không đƣợc lạm dụng danh nghĩa nhà áo để sách nhiễu và làm việc vi phạm pháp luật, nhƣng ị cáo đã lợi dụng danh nghĩa nhà áo chỉ đạo Nguyễn Văn Đ, Trịnh Thị H là sinh viên Học viện báo chí và tuyên truyền (đang học việc) viết bài phản ánh về nội dung sự việc tại quầy thuốc của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình. Sau đó, tìm cách chuyển thông tin bài viết này đến lãnh đạo Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình, nhằm làm cho lãnh đạo bệnh viện sợ nếu bài viết đƣợc đăng lên áo sẽ làm giảm uy tín của bệnh viện nên từ đó sẽ phải xin nhóm của T không đăng ài. Do đó, trong vụ án này, bị cáo giữ vai tr đầu và là ngƣời thực hành tích cực. Về nhân thân ị cáo: Ngày 12/3/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phƣờng NS, thành phố Ninh Bình ra quyết định xử phạt hành chính “Cảnh cáo” về hành vi đánh bạc.

Đối với các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Trịnh Thị H là sinh viên Học viện báo chí và tuyên truyền đi theo Bùi Anh T học việc. Sau khi nắm thông tin vụ việc, Bùi Anh T chỉ đạo Nguyễn Văn Đ, Trịnh Thị H viết bài dự thảo nội dung liên quan đến những sai phạm của bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình tối ngày 22/11/2020. H đã xây dựng sƣờn nội dung bài viết sau đó gửi cho Đ và T chỉnh sửa rồi H viết lại thành bài hoàn chỉnh. Các bị cáo cùng thống nhất ý chí với ị cáo T để đƣợc hƣởng lợi khi chiếm đoạt đƣợc tài sản. Do đó, các ị cáo phạm tội với vai tr là ngƣời giúp sức. Về nhân thân các ị cáo đều có nhân thân tốt.

* Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

- Bị cáo Bùi Anh T là phóng viên báo Pháp luật Việt Nam đã lợi dụng quyền hạn của mình để thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Lợi dụng quyền hạn để phạm tội” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Trịnh Thị H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

* Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các ị cáo T, Đ, H đều thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo T có bố đẻ có thành tích trong công cuộc bảo vệ an ninh Tổ quốc; bị cáo Đ có ông ngoại đƣợc Hội đồng nhà nƣớc Nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng thƣởng Huân chƣơng kháng chiến; các ị cáo T, Đ, H gia đình đều có hoàn cảnh khó khăn; tài sản các bị cáo chiếm đoạt đã đƣợc thu hồi trả cho bị hại nên các bị cáo T, Đ, H đƣợc áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 của Bộ luật Hình sự.

* Về hình phạt: Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo, cụ thể:

- Đối với bị cáo Bùi Anh T cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo, học tập, cải tạo thành ngƣời có ích cho gia đình và xã hội.

- Đối với các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Trịnh Thị H đang là sinh viên trƣờng Học viện báo trí và tuyên truyền Hà Nội đi theo Bùi Anh T học việc; tuy phạm tội nghiêm trọng, nhƣng với vai trò giúp sức, trong vụ án này không có các bị cáo Đ và H, bị cáo T vẫn thực hiện đƣợc hành vi phạm tội, bản thân các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cƣ trú rõ ràng, có các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội vì có khả năng tự cải tạo. Do đó, cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự giao các bị cáo cho chính quyền địa phƣơng nơi các ị cáo cƣ trú giám sát, giáo dục và ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo là có căn cứ, thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 170 của Bộ luật Hình sự.

[3] Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:

- Đối với 60 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng thu giữ tại sau tấm đệm ở hành lang nhà vệ sinh là số tiền các bị cáo đã chiếm đoạt của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả cho anh Nguyễn Ngọc C là ngƣời đại diện theo ủy quyền nhận lại số tiền trên là có căn cứ, đúng quy định;

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S20 ultra LTE lắp số sim 0912.123.555 thu giữ của Bùi Anh T sử dụng làm phƣơng tiên để phạm tội cần tịch thu, sung ngân sách nhà nƣớc;

- Đối với 01 phong bì màu trắng thu giữ trong nền nhà vệ sinh nam; 01 mảnh giấy xé từ phong bì thu giữ trong bồn cầu nhà vệ sinh nam; 01 tờ báo giấy thu giữ trong thùng rác nhà vệ sinh là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy;

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung lắp số sim 0989.270.798 thu giữ của Nguyễn Văn Đ sử dụng để quay lại cuộc nói chuyện giữa T và anh C ngày 25/11/2020 tại nhà hàng BA; 01 giấy chứng nhận do báo pháp luật Việt Nam cấp số 295/PLVN mang tên Bùi Anh T không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo Đ và bị cáo T.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản ị chiếm đoạt đã thu hồi trả cho ị hại, ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu ồi thƣờng gì thêm, nên về trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Các vấn đề khác:

- Đối với 02 hóa đơn thu phí có số phiếu thu 1495841; 1495816 mang tên Nguyễn Văn Đạt; 02 biên bản làm việc (bản photo); 01 quyển sổ tay màu đen; 01 bản sao bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông của Nguyễn Văn Đ; 01 bản sao sổ hộ khẩu mang tên chủ hộ Nguyễn Văn Ê; 01 bản photo đơn đề nghị của ông Phạm Ngọc Q; 02 đơn kiến nghị (bản photo); 01 đơn phản ánh của công ty khí đốt TL; 01 bản photo giấy chứng nhận phóng viên mang tên Bùi Anh T; 02 bản sao căn cƣớc công dân, Chứng minh thƣ của Nguyễn Văn Đ và Trịnh Thị H; 01 giấy Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn Đ; 01 túi sách giả da màu nâu; 02 thẻ ngân hàng Agribank, Vpbank chủ tài khoản Nguyễn Văn Đ; 01 hộ chiếu mang tên Nguyễn Văn Đ; 01 túi khoác giả da màu đen trên túi có ghi chữ Fusionism; 01 USB màu đỏ đen; 01 laptop nhãn hiệu Dell vostro 5560, màu xám; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, lắp số sim 0339041380 khi khám xét thu giữ của Nguyễn Văn Đ, quá trình điều tra xác định những đồ vật, tài sản trên không liên quan đến vụ án, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Ninh Bình trả lại số đồ vật, tài sản trên cho Nguyễn Văn Đ theo quy định. Nguyễn Văn Đ đã uỷ quyền cho bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1966, trú tại Khu phố ST, phƣờng TS, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá - là mẹ đẻ của Đ nhận lại số đồ vật tài sản trên theo quy định.

- Đối với 01 xe ô tô Biển kiểm soát 35C-117.33, nhãn hiệu Ford Ranger màu xanh; 01 Giấy biên nhận thế chấp của ngân hàng thƣơng mại cổ phần Quốc tế Việt Nam; 01 Bản sao chứng nhận đăng ký xe ô tô số 029880 tên Đoàn Thị B; 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô Biển kiểm soát 35C-117.33 thu giữ của Bùi Anh T quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Đoàn Thị B sinh năm 1991 trú tại xã KH, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình cho T mƣợn làm phƣơng tiện đi lại, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình trả lại cho chị Đoàn Thị B chiếc xe ô tô trên cùng toàn bộ giấy tờ là đúng quy định.

- Đối với 01 Laptop màu bạc; 01 bộ sạc máy tính, 01 thẻ nhớ màu đen nhãn hiệu Sandisk 128GB; 01 thẻ nhớ ký hiệu “XC” 64GB; 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax, lắp số sim 0983.999.377; 01 đồng hồ đeo tay dây giả da màu nâu, thân bằng kim loại màu vàng; 01 ví giả da nam kích thƣớc (18x28)cm trên có dòng chữ Laforce; 01 giấy phép lái xe số AV608724 mang tên Bùi Anh T; 01 giấy giới thiệu của tạp chí điện tử Hòa Nhập; 01 phiếu lý lịch tƣ pháp số 01 mang tên Bùi Anh T; 01 ví giả da màu nâu trên ví có dòng chữ Elly; 01 Giấy phép lái xe số 370115002786 mang tên Bùi Anh T; 02 Thẻ ngân hàng Agribank mang tên Bùi Anh T; 01 thiết bị ghi âm, ghi hình bí mật dạng cúc áo có dòng chữ DGK 445071-RR4LI; 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, không xác định đƣợc số Imei và số sim điện thoại do điện thoại cài mật khẩu; số tiền 1.868.000 đồng; 01 chứng minh thƣ nhân dân số 164134260 mang tên Bùi Anh T; 01 Căn cƣớc công dân số 037083004629 mang tên Bùi Anh T. Quá trình điều tra xác định những đồ vật, tài sản trên của Bùi Anh T không liên quan đến vụ án Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình ra quyết định trả lại số đồ vật, tài sản trên cho Bùi Anh T theo quy định. Bùi Anh T đã uỷ quyền cho chị Bùi Thị M, sinh năm 1981, trú tại Xóm Đông A, thôn NH, xã KH, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình - là chị gái của T nhận lại số đồ vật, tài sản trên.

- Đối với 01 túi vải màu đen nhãn hiệu Sony bên trong có 01 máy quay phim nhãn hiệu Sony màu đen; 01 túi vải màu đen nhãn hiệu Nikon bên trong có một máy ảnh nhãn hiệu Nikon màu đen; 01 mào xe taxi bằng nhựa màu vàng; 01 túi vải màu vàng bên trong có 01 thẻ ngân hàng techcombank tên Triệu Thị Điệp P; 01 thùng bìa giấy catton kích thƣớc (50x40x40)cm bên trong có nhiều loại giấy tờ; 01 côn hai khúc bằng gỗ màu nâu có dây nối màu xanh; 01 ống nh m màu đen trắng hình trụ tròn; 01 sổ hộ khẩu số 430.215.638 mang tên chủ hộ Bùi Anh T; 01 căn cƣớc công dân mang tên Bùi Thị M; 01 túi vải màu đen ên trong có 01 chân máy quay nhãn hiệu Wf WEIFENG màu đen; 01 túi vải màu đen ên trong có 01 Micro nhãn hiệu Panasonic màu đen; 01 thùng nhựa màu đen ên trong có nhiều loại giấy tờ; 01 két sắt nhãn hiệu Việt Tiệp màu xanh; 01 quyển sổ màu nâu nhãn hiệu MEMORIES; 01 bao da màu nâu hiệu CHEVROLET bên trong có nhiều giấy giới thiệu; 01 bản sao giấy khai sinh mang tên Trịnh Thị H và nhiều loại giấy tờ; 01 hộp kim loại màu bạc trên mặt in chữ SSK, bên trong có 01 thiết bị điện tử màu đen có ký hiệu SSK và 01 dây dẫn dài 15cm; 01 cây máy vi tính nhãn hiệu HP màu đen và nhiều loại giấy tờ khác nhau; 01 hộp card có tên Bùi Anh T; 01 đầu ghi Camera màu đen nhãn hiệu HIK VISION, 01 thiết bị điện màu bạc nhãn hiệu AC-DC thu giữ khi khám xét nơi ở của Bùi Anh T, quá trình điều tra xác định những đồ vật tài sản trên không liên quan đến vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình ra quyết định trả lại số tài sản trên cho Bùi Anh T theo quy định. Bùi Anh T đã uỷ quyền cho anh Bùi Cao V, sinh năm 1979, trú tại Xóm ĐA, thôn NH, xã KH, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình nhận lại toàn bộ số đồ vật tài sản trên.

- Đối với 01 mũ cối màu vàng có gắn Công an hiệu, 01 Công an hiệu, 01 gậy rút kim loại có tay cầm màu đen thu giữ của Bùi Anh T, Cơ quan điều tra đã tiến hành tiêu hủy theo quy định.

- Đối với 01 xe ô tô Biển kiểm soát 35D-006.29, nhãn hiệu Chevrolet Spark, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô ( ản sao) Biển kiểm soát 35D-006.29; 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 35D-006.29 thu giữ của Nguyễn Văn Đ, quá trình điều tra xác định chiếc xe ô tô là tài sản của Bùi Anh T cho Đ mƣợn làm phƣơng tiện đi lại chiếc xe trên hiện T đang thế chấp tại ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Đông Nam Á - Chi nhánh Đại An. Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Ninh Bình đã có văn ản đề nghị ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đông Nam Á trả lời về nội dung liên quan đến xe ô tô trên nhƣng đến nay ngân hàng chƣa có văn ản trả lời. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình tách phần tài liệu liên quan đến xe ô tô Biển kiểm soát 35D-006.29 để tiếp tục điều tra xác minh khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định.

- Đối với 06 giấy giới thiệu có mã số 0000976/PLVN; 0000968/PLVN; 0000952/PLVN; 0000962/PLVN; 0000961/PLVN; 001440/PLVN thu giữ của Nguyễn Văn Đ khi khám xét; 06 giấy giới thiệu của báo pháp luật Việt Nam để trống nội dung; 19 giấy giới thiệu của báo Pháp luật Việt Nam ghi đầy đủ thông tin đã qua sử dụng khi khám xét thu giữ của Bùi Anh T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Ninh Bình tách riêng phần hồ sơ, tài liệu và vật chứng có liên quan để tiếp tục tiến hành xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định.

- Các ị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

- Các bị cáo, ị hại đƣợc quyền kháng cáo ản án theo quy định.

r n

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với ị cáo Bùi Anh T.

- Khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với các ị cáo Nguyễn Văn Đ và Trịnh Thị H.

1. Tuyên bố: Các bị cáo Bùi Anh T, Nguyễn Văn Đ và Trịnh Thị H phạm tội “Cƣỡng đoạt tài sản”.

2. Xử phạt:

- Bị cáo Bùi Anh T 42 (Bốn mƣơi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/12/2020.

- Bị cáo Nguyễn Văn Đ 27 (Hai mƣơi bảy) tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 54 (Năm mƣơi tƣ) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (24/6/2021).

Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự. Giao bị cáo Nguyễn Văn Đ cho Uỷ ban nhân dân phƣờng TS, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Gia đình ị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phƣơng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì việc giám sát, giáo dục thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu Nguyễn Văn Đ lại cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án Hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo. Trƣờng hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chấp hành hình phạt của bản án trƣớc và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

- Bị cáo Trịnh Thị H 18 (Mƣời tám) tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mƣơi sáu tháng) thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (24/6/2021).

Bị cáo Trịnh Thị H phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự. Giao bị cáo Trịnh Thị H cho Uỷ ban nhân dân xã HK, huyện HH, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Gia đình ị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phƣơng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì việc giám sát, giáo dục thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu Trịnh Thị H lại cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án Hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Trịnh Thị H phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo. Trƣờng hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo Trịnh Thị H phải chấp hành hình phạt của bản án trƣớc và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

3. V ử

ật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:

- Tịch thu sung công quỹ nhà nƣớc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S20 ultra LTE lắp số sim 0912.123.555.

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì màu trắng; 01 mảnh giấy xé từ phong bì; 01 tờ báo giấy .

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung lắp số sim 0989.270.798.

- Trả lại cho bị cáo Bùi Anh T 01 giấy chứng nhận do báo pháp luật Việt Nam cấp số 295/PLVN mang tên Bùi Anh T.

(Tình trạng vật chứng nhƣ biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/6/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).

4. V án phí hình ự th m: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thƣờng vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Bùi Anh T, Nguyễn Văn Đ và Trịnh Thị H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (24/6/2021); Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ