vanban.org

Bản án 69/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 29/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Quang D và đồng phạm - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRIỆU SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2021/HSST
Ngày 29 tháng 9 năm 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN TỈNH THANH HÓA

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Hợp

Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Nguyễn Bá Long

2. Bà Lê Thị Mai

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Ngọc Thành, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ hình sự thụ lý số 68/2021/HSST ngày 26 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2021/QĐXX-ST ngày 31 tháng 8 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2021/QĐST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2021 đối với: *> Các bị cáo. 1, Họ và tên Hà Quang D - Sinh năm 1999; Giới tính: Nam Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn X, xã D, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Hà Quang B và con bà Lê Thị L; Vợ, con: Chưa có; Nhân thân: Ngày 05/11/2019 bị Công an huyện Triệu Sơn xử phạt hành chính (phạt tiền) về hành vi “ Xâm hại sức khỏe của người khác”, đã nộp phạt ngày 17/12/2019; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/6/2021 đến nay, có đơn đề nghi xử án vắng mặt vì lý do bị cáo đang nằm viện điều trị tai nạn chấn thương cột sống. 2, Họ và tên Nguyễn Việt L – sinh năm 2001; Giới tính: Nam Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Phố T, thị trấn TS, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Nam H và con bà Lê Thị D. Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/6/2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa. *> Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị D, sinh năm 1967 và Ông Nguyễn Nam H, sinh năm 1968; Đều trú tại: Phố T, thị trấn TS, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, có mặt tại phiên tòa: *> Những ngƣời làm chứng: Anh Vũ Bá C, sinh năm 2001, anh Trịnh Hữu Thanh, sinh năm 1991, anh Vũ Trọng D, sinh năm 1983 và anh Trịnh Hữu Q, sinh năm 1997; Đều trú tại thị trấn TS, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 30/01/2021, Vũ Bá C, Nguyễn Việt L, Hà Quang D cùng một số người khác đi dự sinh nhật Trịnh Hữu Q, tại quán ăn Thanh Linh, ở phố Tô Vĩnh Diện, thị trấn Triệu Sơn. Trong lúc ăn uống thì giữa C và D có xảy ra cãi vã. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, C đứng dậy ra về, khi ra đến khu vực phía trước quán thì D chạy ra, dùng tay túm tóc và đấm vào mặt C. Cao Phương A, Hà Văn C đang ở trong quán thấy vậy chạy lại, dùng tay đấm liên tiếp vào lưng C, Q và một số người lại can ngăn thì C bỏ chạy vào bên trong quán. D và Linh đuổi theo, D cầm vỏ chai bia đập C nhưng không trúng, L dùng tay đấm C một cái vào lưng, C bỏ chạy vòng ra cửa phía bên hông của bếp và chạy ra đường tỉnh lộ 514 theo hướng ngã tư Giắt, thị trấn Triệu Sơn. bị cáo D và bị cáo L chạy đuổi theo sau nhưng không kịp nên bị cáo D bảo bị cáo L quay lại lấy xe củabị cáo L (biển kiểm soát 36B4 – 906.77) để chở bị cáo D lùa đuổi C. Đồng thời, bị cáo gọi điện cho Hà Quang T và Nguyễn Văn K đến để đánh C. Quá trình đuổi theo C, trên đoạn đường tỉnh lộ 514,bị cáo L điều khiển xe máy với tốc độ cao, bị cáo D ngồi phía sau hò hét, chửi bới, bảo C đứng lại. C chạy được khoảng 350m thì thấy nhà anh Trần Đức L, sinh năm 1987, ở số nhà N, phố TD, thị trấn TS có đông người nên chạy vào để nhờ giúp đỡ. Thấy vậy, bị cáo L đi xe máy đến và dừng xe trước nhà anh Trần Đức L,bị cáo D chạy vào nhà đến phòng ngủ thì đuổi kịp C, bị cáo D đè C xuống giường dùng tay đấm vào đầu C hai cái. Cùng lúc đó, T và K đi xe máy đến, K cầm kiếm đi vào nhà anh Trần Đức L thì bị người dân cản lại, bị cáo L thấy có nhiều người cầm hung khi đến nên sợ bỏ đi về trước, T cầm theo vỏ chai bia, chạy vào trong nhà và đập một cái vào đầu C. Sau đó, được người dân can ngăn thì tất cả bỏ đi. C bị thương, phải điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện Triệu Sơn và Bệnh viện đa khoa Hợp Lực.

Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể Vũ Bá Cường, hồi 22 giờ 40 phút ngày 30/01/2021 thể hiện:

- Vùng thái dương trái có vết trầy xước, không chảy máu

- Vùng mu tay trái có vết trầy xước nhẹ, rỉ máu

- Vùng môi trên có vết rách da dài 1,5cm sưng nề, bầm tím, chảy máu

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 75/2021/TTPY ngày 05/02/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận: Tại thời điểm giám định pháp y về thương tích, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Vũ Bá C là 02%. Ngày 03/8/2021, Vũ Bá C có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với việc anh bị đánh gây thương tích.

Quá trình khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường nơi xảy ra vụ án là quán ăn Thanh Linh của gia đình anh Trịnh Hữu Th kéo dài 350m về phía Tây Bắc đến nhà anh Trần Đức L (đoạn đường bị cáo L chở bị cáo D bằng xe máy hò hét, truy đuổi Vũ Bá C), nằm trên tỉnh lộ 514 thuộc phố Tô Vĩnh Diện, thị trấn Triệu Sơn. Đây là khu vực đông dân cư, thường xuyên tập trung nhiều người và phương tiện đi lại. Quá trình khám nghiệm hiện trường phát hiện và ghi nhận nhiều mảnh vỡ thủy tinh (dạng vỏ chai bia) tại khu vực phía trước quán ăn Thanh Linh. Tiến hành rà soát quanh khu vực hiện trường, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Triệu Sơn đã trích xuất dữ liệu hình ảnh là 04 file video từ camera nhà hàng Thanh Linh, 02 file video từ camera nhà ông Nguyễn Văn T ở phố T, thị trấn TS, 01 file video từ camera nhà anh Lê Doãn G, ở phố T, thị trấn TS, 01 file video từ camera nhà hàng Th, ở số X, phố phố T, thị trấn TS. Các video này ghi lại hình ảnh thể hiện hành vi phạm tội của các bị cáo (ở nhà hàng Thanh L và quá trình truy đuổi, hò hét trên đường), đã được giám định xác định tính nguyên vẹn và mô tả bằng bản ảnh đưa vào hồ sơ vụ án.

Báo cáo của chính quyền địa phương, nhà hàng Thanh Linh và những hộ dân xung quanh hiện trường thể hiện: Hành vi đuổi đánh Vũ bá C tại quán ăn Thanh Linh và dùng xe máy hò hét, chửi bới, truy đuổi C trên đường tỉnh lộ 514, từ quán ăn Thanh Linh đến nhà anh Trần Đức L (khoảng 350m) của bị cáo D và bị cáo L diễn ra trong thời gian Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII và trước tết Nguyên đán Tân Sửu, đã làm ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho nhân dân trên địa bàn.

Về trách nhiệm dân sự: Không ai yêu cầu nên không xem xét.

Về vật chứng: 08 file video lưu giữ trong 04 đĩa CD – R đưa vào hồ sơ vụ án; 01 xe máy YAMAHA Exciter 135 màu xanh bạc, biển kiểm soát 36B4 – 906.77 (kèm theo đăng ký xe) của bị cáo L, 01 điện thoại di động Samsung galaxy J7, gắn sim số 0799.014.347 của bị cáo D, bảo quản chờ xử lý theo quy định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị D và ông Nguyễn Nam H trình bày, chiếc xe máy xe máy YAMAHA Exciter 135 màu xanh bạc, biển kiểm soát 36B4 – 906.77 là do ông bà bỏ tiền ra mua lại cho bị cáo làm phương tiện đi học, không biết bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội, đề nghị được trả lại xe để làm phương tiện đi lại.

Cáo trạng số 66/CT-VKS-TS ngày 23/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn đã truy tố bị các bị cáo về tội “ Tội gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự (BLHS)

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng dụng khoản 1 Điều 318, điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 58 BLHS đối với cả hai bị cáo, thêm Điều 38 BLHS đối với bị cáo D, Điều 35 BLHS đối với bị cáo L để tuyên bố các bị cáo phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và xử phạt bị cáo D từ 04 đến 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt tiền đối với bi cáo L từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ sung ngân sách Nhà nước.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS, trả lại cho bà Lê Thị D, ông Nguyễn Nam H 01 xe máy YAMAHA Exciter 135 màu xanh bạc, biển kiểm soát 36B4 – 906.77. Trả lại cho bị cáo D 01 điện thoại di động Samsung galaxy J7, gắn sim số 0799.014.347 vì không liên quan đến hành vi phạm tội.

Phần tranh luận: Bị cáo L thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận gì, lời nói sau cùng của bị cáo hứa sửa chữa, không tái phạm và xin được xử phạt tiền để bị cáo có cơ hội tiếp tục học tập, đối với bị cáo D tại đơn xin xử án vắng mặt thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng và xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án,căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định

Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định xét, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đến phiên tòa cho các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, tại phiên tòa hôm nay bị cáo Dương vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

Xét thấy bị cáo D có đơn xin xử án vắng mặt vì lý do bất khả kháng ( bị tai nạn chấn thương cột sống đang điều trị tại Bệnh viện đa khoa Triệu Sơn, được bệnh viện xác nhận) phù hợp với quy định tại điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự và việc vắng mặt bị cáo D và những người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử và không có ai xin hoãn phiên tòa, Hội đồng xét xử chấp nhận lý do vắng mặt của bị cáo D, tiếp tục xét xử vụ án, Quá trình xét xử HĐXX đã công bố lời khai của những người vắng mặt theo quy định tại Điều 308 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tính hợp pháp của các hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Các hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người liên quan, người làm chứng đều không có khiếu nại, tố cáo gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện thể hiện trong hồ sơ đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo khai nhận: Khoảng 19 giờ ngày 30/01/2021, các bị cáo cùng Vũ Bá C cùng 1 một số người bạn dự sinh nhật Trịnh Hữu Q tại nhà hàng Thanh Linh ở phố T, thị trấn TS sau khi ăn uống xảy ra cải vả giữa Vũ Bá C và mọi người, đến khoảng 21 giờ cùng ngày C ra về thì bị cáo D,bị cáo L đuổi đánh C, C bỏ chạy ra đường tỉnh lộ 514 hướng về phố Giắt,thị trấn Triệu Sơn thì bị cáo D và bị cáo L tiếp tục dùng xe máy của bị cáo L do bị cáo L điều khiển, bị cáo D ngồi sau chạy với tốc độc cao hò hét chửi bới, truy đuổi C trên đoạn đường khoảng 350m. Lời khai của các bị cáo phù hợp của lời khai của Vũ Bá C, báo cáo của chính quyền địa phương, phù hợp với các file hình ảnh video thu thập được từ các camera của các gia đình ven đường và phù hợp với tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa và phù hợp với nội dung Cáo trạng. Như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi dùng xe máy chạy tốc độ cao, la hét, truy đuổi người khác tại vực đông dân cư và phương tiện đi lại của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến trật tự công cộng, cuộc sống, sinh hoạt ổn định của cộng đồng dân cư hai bên đường, hành vi của các bị cáo xảy ra thời điểm gần tết nguyên đán và đang diễn ra Đại hội Đảng toàn quốc nên phải xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Hành vi của các bị cáo đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “ Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 BLHS.

Đánh tính chất mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn công cộng là khách thể được luật hình sự bảo vệ.

Đây là vụ án có nhiều người tham gia nhưng không có sự cấu kết tổ chức chặt chẽ chỉ hành động bột phát nên là đồng phạm giản đơn trong đó bị cáo D là người đánh C trước, khi C bỏ chạy đã bảo bị cáo L lấy xe máy và ngồi sau xe bị cáo L la hét, truy đuổi C trên đường phố đông dân cư, bản thân có nhân thân xấu nên phải chịu trách nhiệm ở vai trò chính, bị cáo L là người giúp sức tích cực dùng phương tiện là xe máy mang tên bị cáo đèo bị cáo D chạy tốc độ cao để bị cáo D la hét, truy đuổi người khác trên khu vực đường phố đông dân cư nên cũng phải chịu trách nhiệm ở vai trò sau bị cáo D.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:

+ Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

+ Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo D và L quá trình điều tra, truy tố đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bản thân bị cáo D đang bị tại nạn chấn thương cột sống, bị cáo L có ông ngoại là liệt sỹ kháng chiến chống Mỹ và bố mẹ đều là giáo viên, quá trình học tập luôn là học sinh chăm ngoan học giỏi được tặng nhiều giấy khen và tham gia tích cực các phong trào của trường và địa phương nơi cư trú, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1,2 Điều 51 BLHS, nên được xem xét áp dụng cho các bị cáo.

+ Về nhân thân: Bị cáo D ngày 05/11/2019 bị Công an huyện Triệu Sơn xử phạt hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác” đã chấp hành xong, không bị xem là tiền sự nhưng là nhân thân xấu.

Xét thấy bị cáo D tuy có nhiều tình tiết giảm nhẹ, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng nhân thân xấu, phạm tội với vai trò chính bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa chữa bản thân mà lại có hành vi gây rối trật tự công cộng là thể hiện ý thức coi thường pháp luật, phải xử lý nghiêm minh và cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định là phù hợp tính chất mức độ vai trò, nhân thân của bị cáo.

Bị cáo L có nhiều tình tiết giảm nhẹ, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội ở vai trò giúp sức, gia đình bố mẹ đều là giáo viên, có ông ngoại là liệt sỹ chống Mỹ, bản thân bị cáo đang là sinh viên trường đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội, quá trình học tập được tặng nhiều giấy khen và tham gia tích cực các phong trào của nhà trường, địa phương nơi cư trú được địa phương xác nhận, nên cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo được tiếp tục học tập rèn luyện, phấn đấu trở thành công dân có ích cho xã hội, là thể hiện tính khoan hồng của pháp luật đối với người nhất thời phạm tội.

Đối với hành vi đánh gây thương tích cho anh Vũ Bá C của Cao Anh Ph, Hà Văn C, Hà Quang T, anh Vũ Bá C không yêu cầu khởi tố vụ án nên không có căn cứ giải quyết hình sự và hành vi mang kiếm đến để đánh nhau của Nguyễn Văn Kiên nhưng không có hành vi lùa đuổi, gây thương tích cho ai, các đối tượng này cơ quan Công an huyện Triệu Sơn đã xử lý hành chính và tịch thu thành kiếm của Kiên là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: 01 xe máy YAMAHA Exciter 135 màu xanh bạc, biển kiểm soát 36B4 – 906.77 thu giữ của bị cáo L, chiếc xe này đứng tên quyền sở hữu của bị cáo L và bị cáo đã dùng chiếc xe này chở theo bị cáo D điều khiển chạy tốc độ cao vừa chay vừa la hét truy đuổi C gây mất trật tự công công khu dân phố nên là công cụ phương tiện phạm tội, đáng lẽ phải tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước.

Nhưng xét thấy, chiếc xe tuy đứng tên sở hữu của bị cáo, nhưng trên thực tế là do bố mẹ bị cáo là bà Lê Thị D ông Nguyễn Nam H bỏ tiền mua lại của ông Nguyễn Văn Kh ở thôn L, xã VT, huyện N, tỉnh Thanh Hóa đầu năm 2020 dùng làm phương tiện đi lại, thời điểm bà D ông H mua chiếc xe này, bị cáo bị cáo L còn đi học phổ thông không có đóng góp gì vào việc mua xe, cuối năm 2020 bị cáo L đậu đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội, do điều kiện gia đình khó khăn, không có điều kiện mua xe mới nên bà D, ông H để chiếc xe này cho bị cáo L để làm phương tiện đi lại học tập và để tiện cho việc sử dụng ông bà mới sang tên cho L nhưng thực tế không L có quyền định đoạt, tối ngày 30/01/2021 bị cáo L có mượn xe này nói là đi dự sinh nhật bạn, sau đó dùng vào việc phạm tội bà D, ông H không biết và có đơn xin được trả lại chiếc xe, đơn được chính quyền địa phương xác nhận, tại phiên tòa bị cáo L cũng xác nhận điều này, xét thấy trình bày của bà D ông H là thực tế và có căn cứ nên áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS trả lại 01 chiếc xe máy YAMAHA Exciter 135 màu xanh bạc, biển kiểm soát 36B4 – 906.77, kèm theo đăng ký xe cho bà Lê Thị D ông Nguyễn Nam H làm phương tiện đi lại.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy J7, gắn sim số 0799.014.347 thu giữ của bị cáo Hà Quang D, không liên quan đến hành vi phạm tội trong vụ án này, trả lại cho bị cáo D.

Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/QD14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QuyÕt ®Þnh

Căn cứ và khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS cho cả hai bị cáo, thêm Điều 38 BLHS cho bị cáo Dương và Điều 35 BLHS cho bị cáo Linh.

Tuyên bố: Các bị cáo Hà Quang D và Nguyễn Việt L phạm tội “ Gây rối trật tự công cộng”

Xử phạt: Bị cáo Hà Quang D 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Việt L 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.

Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự , Điều 106, 136, 331, 333, 336 Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án

Vật chứng: Trả lại cho bà Lê Thị D ông Nguyễn Nam H 01 xe máy YAMAHA Exciter 135 màu xanh bạc, biển kiểm soát 36B4-906.77, số khung: S9AOFY075673; số máy 1S9A075687, kèm theo 01 đăng ký xe BKS 36B4 -906.77 mang tên Nguyễn Việt L; Trả lại cho bị cáo Hà Quang D 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J7, gắn sim số 0799.014.347 ( Vật chứng có đặc điểm tại Quyết định chuyển vật chứng số 66/QĐ-VKS-TS ngày 23/8/2021 của VKSND huyện Triệu Sơn)

Về án phí: Buộc các bị cáo Hà Quang D và Nguyễn Việt L mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo, kháng nghị: Bị cáo Linh và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị cáo D vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết; Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên theo quy định của pháp luât tố tụng hình sự.

HỘI ĐỒNG XÉT X Ử SƠ THẨM

Cỡ chữ