- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Minh Duy phạm tội trộm cắp tài sản.... - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:69/2021/HS – ST Ngày: 16 – 7 – 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Kim Sa Pha
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Châu
Ông Huỳnh Phước
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Bảo Quốc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại D Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vương – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2021/TLST – HS ngày 21 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2021/QĐXXST – HS ngày 18 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:
Phùng Minh D, sinh năm 1995; Tên gọi khác: Cu Đen; Nơi sinh: Sóc Trăng. Nơi cư trú: Ấp 2, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Bán vé số; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Minh K và bà Hồ Thị Thu H; Vợ, con chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 lần; Vào ngày 02/01/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng tuyên phạt 03 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong vào ngày 01/08/2020 (Chưa được xóa án tích): Nhân thân: Ngày 04/11/2016, bị Công an phường 2, thành phố Sóc Trăng xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi “Trộm cắp tài sản” tại Quyết định số 167/QĐ – XPHC (bị cáo đã nộp phạt xong). Bị cáo bị bắt áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 11/3/2021 cho đến nay (Bị cáo có mặt).
+ Người đại D hợp pháp của bị cáo (Giám hộ): Bà Hồ Thị Thu H, sinh năm 1972. Địa chỉ: Ấp N, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
+ Người bào chữa: Luật sư Phạm Thanh Dân – Văn phòng luật sư Đường Dân Thạch, thuộc đoàn luật sư tỉnh Sóc Trăng. Địa chỉ: Ấp Sóc Bưng, xã Thạnh Phú, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Người bị hại:
+ Anh Dương Rol T, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số 919, đường T, khóm A, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
+ Bà Trần Ngọc D, sinh năm 1967. Địa chỉ: Số 801, đường T, khóm A, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phùng Minh D là người không có nghề nghiệp ổn định. Để có tiền tiêu xài cá nhân nên từ ngày 01/3 đến 07/3 năm 2021, D đã hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 00 giờ, ngày 01 tháng 3 năm 2021, D một mình điều khiển xe đạp đi vòng quanh trung tâm thành phố Sóc Trăng để tìm tài sản lấy trộm. Khi đi ngang căn nhà số 919, đường Trần Hưng Đạo, khóm 1, phường 10, thành phố Sóc Trăng, đang xây dựng nên đã nảy sinh ý định đột nhập vào bên trong tìm tài sản lấy trộm. D để xe đạp bên ngoài, rồi trèo qua lưới rào bên hông nhà để vào bên trong. Khi vào được bên trong, D đi vào khu vực nơi anh Dương Rol T đang ngủ, bên cạnh anh T có để 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20 nên D đã lén lút lấy chiếc điện thoại bỏ vào trong túi quần của D rồi quay ra ngoài theo đường đã trèo vào. Khi định trèo ra ngoài, D phát hiện có 02 vành xe mô tô bằng kim loại để sát vách tường nên đã lấy 02 vành xe, sau đó leo ra ngoài rồi lên xe đạp đi về nhà. Khi đi đến khu vực giao nhau giữa đường Lý Thường Kiệt và Hai Bà Trưng phường 1, thành phố Sóc Trăng thì bị lực lượng Công an phường 1, thành phố Sóc Trăng đi tuần tra phát hiện, sau đó mời D về trụ sở làm việc và D thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 48/KL – ĐGTS ngày 25/3/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Sóc Trăng, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A20, màu xám đen, có giá trị 3.142.500 đồng và 01 ốp lưng bằng nhựa, màu đen có giá 22.500 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 3.165.000 đồng.
Tại Công văn số 50/TC – KH ngày 14/4/2021 của Phòng Tài chính – Kế hoạch thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Sóc Trăng trả lời Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sóc Trăng, biết 02 vành xe mô tô bằng kim loại, đã qua sử dụng, không rõ nhãn hiệu, xuất xứ, năm sử dụng nên Hội đồng định giá không có đủ cơ sở để định giá.
Về vật chứng, Cơ quan điều tra tạm giữ: 01 chiếc xe đạp Inox màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A20, màu xám đen; 01 ốp lưng bằng nhựa, màu đen và 02 vành xe mô tô bằng kim loại. Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã làm rõ và trao trả lại tài sản bị mất trộm nêu trên cho chủ sở hữu anh Dương Rol T và trả lại 01 chiếc xe đạp Inox màu trắng cho chủ sở hữu Phùng Minh Khải.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Dương Rol T đã nhận lại tài sản bị trộm, không yêu cầu bị cáo bồi thường Tệt hại.
Lần thứ hai, vào khoảng 03 giờ, ngày 07 tháng 3 năm 2021, D một mình điều khiển xe đạp đi vòng quanh trung tâm thành phố Sóc Trăng để tìm tài sản lấy trộm. Đến khoảng 05 giờ, khi đi ngang căn nhà số 801, đường Trần Hưng Đạo, khóm 8, phường 3, thành phố Sóc Trăng, quan sát thấy cửa nhà mở nhưng không có người trông coi nên đã nảy sinh ý định vào bên trong tìm tài sản lấy trộm. Khi vào nhà, D thấy có 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7, màu vàng Gold, có ốp lưng nhựa màu đỏ để trên bàn ở phòng khách nên D đã lấy chiếc điện thoại bỏ vào trong túi quần rồi đi ra ngoài, sau đó đem chiếc điện thoại trộm được về nhà cất giấu. Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, D đem chiếc điện trộm được đến cửa hàng điện thoại Hồng Lân, số 40, đường Lê Hồng Phong, khóm 7, phường 3, thành phố Sóc Trăng để bán, chưa bán được thì bị Công an đến bắt và thu giữ vật chứng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 38/KL – ĐGTS ngày 15/3/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Sóc Trăng, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, màu vàng Gold, có giá 2.112.500 đồng; 01 ốp lưng bằng nhựa màu đỏ, có giá 19.500 đồng; 01 kiếng cường lực điện thoại, có giá 7.800 đồng. Tổng giá trị tài sản là 2.139.800 đồng.
Về vật chứng, Cơ quan điều tra tạm giữ: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, màu vàng Gold; 01 ốp lưng bằng nhựa màu đỏ; 01 kiếng cường lực điện thoại và 01 chiếc xe đạp mini màu trắng. Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã làm rõ và trao trả lại tài sản bị mất trộm nêu trên cho chủ sở hữu là bà Trần Ngọc D và trả lại 01 chiếc xe đạp mini màu trắng cho chủ sở hữu là Hồ Thị Thu Hà.
Đến ngày 09/3/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Phùng Minh D về “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại bản cáo trạng số 60/CT-VKS.TPST ngày 19 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Phùng Minh D về “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cáo trạng số 60/CT-VKS.TPST ngày 19 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng; Đề nghị tuyên bố bị cáo Phùng Minh D phạm Tội trộm cắp tài sản và áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm q, h, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Phùng Minh D từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng đã được giao trả cho những người bị hại và những người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Tại phiên tòa, luật sư bào chữa cho bị cáo D thống nhất với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, truy tố bị cáo D về Tội trộng cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nhân thân, hoàn cảnh gia đình của bị cáo, bản thân bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều kiển hành vi. Ngoài ra, đối với hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo vào ngày 01/3/2021 đã được Công an Phường 1 giải quyết xong, thu giữ tài sản trộm trả lại cho người bị hại ngay sau đó và cho bị cáo về nên được xem là đã xử lý xong. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xác định bị cáo chỉ phạm tội 01 lần vào ngày 07/3/2021, không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là bị cáo phạm tội nhiều lần và xử phạt bị cáo 01 năm tù trở xuống là đủ sức răng đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phùng Minh D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo và người đại D hợp pháp của bị cáo là bà Hà xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn D chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thành phố Sóc Trăng trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt những người bị hại anh Dương Rol T, bà Trần Ngọc D. Xét thấy, những người bị hại đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nhưng trong quá trình điều tra vụ án, người bị hại đã có lời khai cụ thể, đầy đủ và rõ ràng, vấn đề bồi thường Tệt hại dân sự không yêu cầu. Nên Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt những người bị hại nêu trên theo quy định.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phùng Minh D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng. Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người bị hại, lời khai của những người tham gia tố tụng khác trong vụ án; biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, bản kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 00 giờ ngày 01/3/2021 và 05 giờ ngày 07/3/2021 tại các nhà người bị hại số 919, khóm 1, phường 10 và số 801, khóm 8, phường 3, thành phố Sóc Trăng bị cáo Phùng Minh D đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người bị hại Dương Rol T 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A20, có giá trị 3.142.500 đồng và 01 ốp lưng bằng nhựa có giá 22.500 đồng, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 3.165.000 đồng; chiếm đoạt của người bị hại Trần Ngọc D 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, màu vàng Gold, có giá 2.112.500 đồng; 01 ốp lưng bằng nhựa màu đỏ, có giá 19.500 đồng; 01 kiếng cường lực điện thoại, có giá 7.800 đồng, tổng giá trị tài sản là 2.139.800 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của hai người bị hại được định giá số tiền là 5.304.800 đồng, nên đủ yếu tố cấu thành tội phạm về “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo Phùng Minh D là nguy hiểm cho xã hội, tuy bị cáo là người bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo phải biết tài sản hợp pháp của người khác luôn được pháp luật bảo vệ, nhưng chỉ vì lười lao động nhưng muốn thừa hưởng tài sản của người khác mà bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút để trộm cắp tài sản của hai người bị hại một cách trái pháp luật nên bị cáo phải chịu hậu quả pháp lý về trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra. Do đó, cáo trạng số 60/CT-VKS.TPST ngày 19 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, đã truy tố bị cáo Phùng Minh D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và không làm oan, sai cho bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ trực tiếp xâm hại đến tài sản hợp pháp của những người bị hại một cách trái pháp luật mà còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh, trật tự xã hội ở địa phương, làm cho người dân nơi bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản không an tâm lao động, sản xuất. Cụ thể, là đối với loại tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Sóc Trăng nói riêng và nhiều địa phương khác nói chung luôn gây bức xúc cho xã hội. Bản thân bị cáo có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản nhưng không sửa đổi, lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài nhất định, để bị cáo cải tạo, học tập và sữa chữa sai lầm của mình, trở thành một công dân sống và chấp hành theo quy định của pháp luật.
Trước khi quyết định mức hình phạt, Hội đồng xét xử đã xem xét, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, để cá thể hóa hình phạt của bị cáo như sau: Bản thân bị cáo 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm và mỗi lần chiếm đoạt tài sản của người bị hại đều có giá trị trên 2.000.000 đồng nên bị cáo phải chịu các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự trong lúc lượng hình. Tuy nhiên trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn được thu hồi và trả lại cho người bị hại ngay sau đó, bản thân bị cáo bị hạn chế nhận thức và điều khiển hành vi, không biết chữ nên nhận thức pháp luật còn hạn chế nên thuộc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, s, q khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt mà đáng lẽ ra bị cáo phải chịu.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự của vụ án: Đã được xử lý xong trong giai đoạn điều tra và những người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Xét quan điểm bào chữa của luật sư cho bị cáo là có căn cứ một phần, được Hội đồng xét xử chấp nhận như đã nhận định, phân tích nêu trên.
Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề khác của vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Phùng Minh D là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYEÁT ÑÒNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s, q khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 136; Điều 333 và Điều 338 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Phùng Minh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Xử phạt bị cáo Phùng Minh D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giam 11/3/2021.
2. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự của vụ án: Đã được xử lý xong trong giai đoạn điều tra và những người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
3. Về án phí: Bị cáo Phùng Minh D là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phùng Minh D, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với những người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định, để yêu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND TP Sóc Trăng; - Bị cáo, những người bị hại; - Đại D hợp pháp của bị cáo - Người bào chữa của bị cáo; - Chi cục THA DS TP Sóc Trăng; - CQ.THA HS Công an TP Sóc Trăng; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Kim Sa Pha |