vanban.org

Bản án 69/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Tuyên án 21/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] ăn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47; Điều 50 của Bộ luật Hình sự.

ăn cứ các Điều 106; 136; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. ăn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] ăn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47; Điều 50 của Bộ luật Hình sự.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỦ LÝ
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2021/HS-ST.
Ngày 21 - 5 - 2021.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuyên. Các Hội thẩm nhân dân: ng

Trung và ông Trịn Văn i.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Hồng Liên - à T ư ký của Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Hoàng Mạnh Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ t ẩm công khai vụ án hình sự sơ t ẩm thụ lý số: 56/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2021, theo Quyết địn đưa vụ án ra xét xử số: 61/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2021, đối với bị cáo:

Trƣơng Văn B, sin năm 1984; nơi sinh: Tỉnh Hà Nam; nơi ĐKNKTT, chỗ ở: Thôn 1, xã NN, huyện LN, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: ao động tự do; trìn độ văn óa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Xuân V và bà Nguyễn Thị C; vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1988; con: Có 03 con, con lớn nhất sin năm 2010, con nhỏ nhất sin năm 2018; tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2020 đến ngày 08/02/2021 được tại ngoại tại địa p ương theo “Quyết định cho Bảo lĩn ”; có mặt.

* Bị hại: Anh Hoàng Lý S, sin năm 1992; địa chỉ: Thôn AM 2, xã TS, thị xã DT, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị C, sin năm 1957; địa chỉ: Thôn 1, xã NN, huyện LN, tỉnh Hà Nam; có mặt.

* Người làm chứng: Anh Nguyễn Hoài N; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt n ư sau:

Khoảng 08 giờ ngày 24/12/2020, Trương Văn B đi xe ô tô k ác của nhà xe Trường Sơn, loại xe 16 chỗ, BKS: 18B-022.79 từ sân bay Nội Bài, thành phố Hà Nội đề về nhà. B ngồi ở hàng ghế thứ ba từ ghế lái xuống, sát cửa kính bên trái của ô tô, ngồi cạnh B là anh Hoàng Lý S và anh Hoàng Lý Tài. Khi lên xe, anh S để 01 chiếc v da màu đen n ãn iệu Versace, loại cầm tay có dây đeo, bên trong có số tiền 60.000.000 đồng và một số giấy tờ cá nhân ở trên ghế ngồi phía sau lưng của anh S. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, xe ô tô đi về đến trạm dừng nghỉ Trường Sơn thuộc thôn Triệu Xá, xã Liêm Tuyền, thành phố Phủ Lý thì anh S và anh Tài xuống xe n ưng an S không cầm theo chiếc ví rồi đi taxi về nhà. B vẫn ngồi ngủ trên xe, khoảng 05 phút sau B tỉnh dậy, xuống xe thì thấy chiếc ví trên ghế n ưng k ông t ấy anh S, anh Tài. B đi vệ sin sau đó quay lại xe thì vẫn thấy chiếc ví của anh S trên ghế nên nảy sin ý định trộm cắp chiếc ví. Quan sát xung quanh thấy k ông có ai để ý, B lấy chiếc ví của anh S cho vào túi quần áo của mình rồi xuống xe bắt xe ôm đi về n à mà k ông đi n ư lịch trìn đã đăng k với n à xe. Tr n đường đi về, B kiểm tra chiếc ví thấy bên trong có tiền và giấy tờ cá nhân của anh S, B lấy toàn bộ số tiền trong ví bỏ vào túi quần, còn ví và các giấy tờ khác B ném xuống vệ đường thuộc thôn Thiên Doãn, xã Tràng An, huyện Bìn Lục. Khi về đến nhà, B cho toàn bộ số tiền vừa lấy được vào 01 túi bóng màu trắng buộc vào một phần viên gạc đỏ đem giấu xuống dưới ao nhà B.

* Vật chứng thu giữ gồm: 01 chiếc túi bóng màu trắng, một phần của viên gạc màu đỏ, số tiền 60.000.000 đồng gồm 120 tờ tiền mện giá 500.000 đồng, 01 US c ứa dữ liệu trích xuất camera của n à xe Trường Sơn, 01 chiếc điện t oại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi 5s.

Ngày 25/12/2020, ơ quan ản sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Trương Văn B tại thôn 1, xã NN, huyện LN, tỉnh Hà Nam. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 04/2021 ngày 22/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Phủ Lý kết luận: 01 v da màu đen n ãn iệu Versace, loại cầm tay, có dây đeo tay, k c t ước khoảng (24x18)cm đã qua sử dụng giá còn 7.000.000 đồng.

Từ nội dung trên, bản cáo trạng số 63/CT-VKSPL ngày 13/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố Trương Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” t eo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

* Tại p i n tòa sơ t ẩm hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát n ân dân t àn p ố P ủ ý luận tội: Giữ nguy n quan điểm truy tố bị cáo n ư đã n u trong bản cáo trạng, k ông t ay đổi, bổ sung gì t m. Sau k i p ân t c t n c ất, mức độ nguy iểm của àn vi p ạm tội và n ân t ân bị cáo, các tìn tiết tăng nặng, giảm n ẹ trác n iệm ìn sự, đề ng ị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c k oản 2 Điều 173; điểm b, s k oản 1, k oản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 50 của ộ luật Hìn sự; xử p ạt bị cáo Trương Văn B từ 30 đến 36 tháng tù, c o ưởng án treo, t ời gian t ử t ác là 60 t áng về tội “Trộm cắp tài sản”. Về ìn p ạt bổ sung: Đề ng ị k ông áp dụng ìn p ạt bổ sung đối với bị cáo. Về trác n iệm dân sự: An Hoàng ý S k ông y u cầu n n đề ng ị Hội đồng xét xử k ông xem xét.

Về xử lý vật c ứng: Đề ng ị áp dụng Điều 47 của ộ luật Hìn sự; Điều 106 của ộ luật Tố tụng ìn sự: Tịc t u ti u ủy một p ần vi n gạc đỏ và một t i bóng màu trắng đã bị rác ; trả lại bị cáo Trương Văn 01 điện t oại di động n ãn iệu Xiaomi Redmi 5s; tiếp tục lưu giữ trong ồ sơ một

hứa dữ liệu tr c xuất camera của n à xe Trường Sơn làm căn cứ giải quyết vụ án.

- ị cáo đã k ai n ận toàn bộ àn vi đã t ực iện tương tự n ư bản cáo trạng đã truy tố và n ất tr với bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã công bố tại p i n tòa. ị cáo k ông tran luận bào c ữa gì. ời nói sau cùng bị cáo c ỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm n ẹ ìn p ạt c o bị cáo.

- Người có quyền lợi, ng ĩa vụ li n quan đến vụ án bà Nguyễn T ị i có quan điểm: Sau k i àn vi p ạm tội của Trương Văn B bị p át iện, B đã ủy quyền c o bà t ay B bồi t ường giá trị c iếc v đã mất c o an S. Đến nay bà k ông có y u cầu gì đối với số tiền đã bồi t ường c o an S.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Tr n cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận địn n ư sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trìn điều tra, truy tố: Những người tiến hành tố tụng này đã t ực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục t eo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trìn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các àn vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với người tham gia tố tụng là bị ại, người làm chứng vắng mặt tại p i n tòa n ưng trong ồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời k ai t eo đ ng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử t eo quy định pháp luật.

Đán giá về tội dan : Đối c iếu lời k ai n ận tội của bị cáo tại p i n tòa với lời k ai của bị cáo trong quá trìn điều tra. Hội đồng xét xử t ấy cơ bản p ù ợp với n au, p ù ợp với lời k ai của bị ại, người làm c ứng về t ời gian, địa điểm, diễn biến vụ án, kết quả địn giá tài sản của ơ quan c uy n môn cũng n ư các tài liệu c ứng cứ k ác có trong ồ sơ vụ án đã được cơ quan điều tra t u t ập.

N ư vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 24/12/2020 tại thôn Triệu Xá, xã Liêm Tuyền, thành phố Phủ Lý, lợi dụng sơ ở trong việc quản lý tài sản của anh Hoàng Lý S, Trương Văn B đã trộm cắp 01 v da màu đen n ãn iệu Versace trị giá 7.000.000 đồng cùng số tiền 60.000.000 đồng của anh Hoàng Lý S. Tổng trị giá tài sản mà B chiếm đoạt của an S là 67.000.000 đồng.

Hành vi nêu trên của Trương Văn B đã p ạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ ý đối với bị cáo n ư bản cáo trạng đã n u là có căn cứ, phù hợp pháp luật.

Đán giá về hình phạt:

* Hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo Trương Văn B là nguy hiểm cho xã hội, àn vi đó đã xâm p ạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người k ác được pháp luật bảo vệ, hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự trị an tr n địa bàn thành phố Phủ Lý, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân. Hàn vi của bị cáo được t ực iện bởi lỗi cố ý. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải ra một bản án ng i m tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã t ực iện nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành một công dân tốt.

Tuy n i n, k i lượng ìn cũng cần cân nhắc đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để áp dụng hình phạt cho phù hợp:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trìn điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tác động đến gia đìn tự nguyện bồi t ường cho bị hại giá trị tài sản đã lấy trộm để khắc phục hậu quả; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy, bị cáo được ưởng các tình tiết giảm nhẹ t eo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, p ạm tội lần đầu.

Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo n u tr n và xem xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nơi cư tr , có lý lịch rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Vì vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà cho bị cáo ưởng án treo cải tạo tại địa p ương t eo quy địn tại Điều 65 của ộ luật Hìn sự cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội mà vẫn đáp ứng được yêu cầu phòng, chống tội phạm trong cộng đồng.

* Hình phạt bổ sung: Xét t ấy k ông cần t iết p ải áp dụng ìn p ạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Hoàng Lý S đã n ận lại trị giá tài sản do bị cáo bồi t ường k ắc p ục ậu quả, đến nay an S không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật c ứng:

- Đối với 01 c iếc t i bóng màu trắng, một p ần của vi n gạc màu đỏ k ông còn giá trị sử dụng cần tịc t u ti u ủy.

- Đối với 01 điện t oại di động n ãn iệu Xiaomi Redmi 5s, quá trìn điều tra và tại p i n tòa xác địn là tài sản ợp p áp của Trương Văn B không liên quan đến àn vi p ạm tội của ìn , n n cần trả lại c o B.

- Đối với số tiền 60.000.000 đồng do Trương Văn trộm cắp của an Hoàng ý S, ơ quan ản sát điều tra ông an t àn p ố P ủ ý đã trả lại c o an Hoàng ý S là p ù ợp p áp luật.

- Đối với 01 US c ứa dữ liệu tr c xuất camera của n à xe Trường Sơn là tài liệu c ứng cứ c ứng min àn vi p ạm tội của bị cáo, cần tiếp tục được lưu trong ồ sơ làm căn cứ giải quyết vụ án.

Về án phí hình sự sơ t ẩm: Bị cáo phải chịu t eo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi ng ĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện quyền k áng cáo t eo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

[1] ăn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47; Điều 50 của Bộ luật Hình sự.

ăn cứ các Điều 106; 136; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

ăn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/U TVQH14 ngày 30 t áng 12 năm 2016 của Ủy ban t ường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[2] Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[3] Xử phạt bị cáo Trương Văn B 30 (ba mươi) tháng tù, c o ưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuy n án sơ t ẩm.

Giao Trương Văn cho Uỷ ban nhân dân xã NN, uyện LN, tỉn Hà Nam giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được ưởng án treo t ay đổi nơi cư tr t ì t ực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử t ác , người được ưởng án treo cố ý vi phạm ng ĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được ưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã c o ưởng án treo.

[4] Về xử lý vật c ứng:

- Tịc t u ti u ủy 01 (một) t i bóng màu trắng đã bị rác và một phần của viên gạc màu đỏ.

- Trả lại Trương Văn 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi 5s, số mei: 863800041126177.

Tìn trạng n ư trong bi n bản giao n ận vật c ứng lập ngày 22/4/2021 giữa ơ quan SĐT ông an TP P ủ ý với i cục T i àn án dân sự t àn p ố P ủ ý.

- Tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án một USB chứa dữ liệu trích xuất Camera của n à xe Trường Sơn làm căn cứ giải quyết vụ án.

[5] Án phí hình sự sơ t ẩm: Buộc bị cáo Trương Văn B phải nộp 200.000đ ( ai trăm ng ìn đồng).

Án xử công k ai sơ t ẩm, bị cáo, người có quyền lợi ng ĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành t eo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu t i àn án được thực hiện t eo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Cỡ chữ