- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thành A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 135 Bộ luật tố t ng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH ÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2021/HS-ST Ngày: 27/5/2021. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH ÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Thu Hương 2. Ông Nguyễn Trung Lưu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Thảo Nguyên, Thư ký Tòa án thành phố Phan Thiết.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quang - Kiểm sát viên. Ngày 27 tháng 5 năm 2021 tại Tr s Tòa án nh n d n thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số: 62/2021/HSST, ngày 13/5/2021 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 94/2021/HSST- QĐ ngày 17 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN THÀNH A, giới Ch: nam; tên gọi khác: không.
Sinh năm:1984; tại Bình Thuận. Nơi ĐKNKTT và chỗ hiện nay: khu phố 1, phường B, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc : Kinh
Quốc tịch: Việt Nam
Tôn giáo: Không Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: không; Cha: ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1957 (đã chết); Mẹ: bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1958 (đã chết); Anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 12/9/2003 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận ra quyết định áp d ng biện pháp đưa vào cơ s giáo d c với thời gian 24 tháng tại Cơ s giáo d c E, huyện F, tỉnh Bình Thuận do có hành vi vi phạm khoản 2 Điều 25 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính.
-Ngày 13/6/2008 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận ra quyết định áp d ng biện pháp đưa vào cơ s giáo d c với thời gian 24 tháng tại Cơ s giáo d c E, huyện F, tỉnh Bình Thuận do có hành vi “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 3, Nghị định 76/2003/NĐ-CP ngày 27/6/2003.
-Ngày 19/10/2015, bị Công an Phường Gxử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
-Ngày 15/9/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 149/2016/HSST. Ngày 27/7/2017 đã đóng án phí, Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 02/02/2018, đã được xóa án tích.
Bị cáo đang bị áp d ng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Trần Thị I, sinh năm 1987 (Vắng mặt)
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn 6, xã J, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Chỗ : số 36, đường K, khu phố 1, phường L, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ nội dung v án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ ngày 01/10/2020, Nguyễn Thành A (sinh năm 1984, hộ khẩu thường trú: khu phố 1, phường B, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận) một mình đi xe đạp từ nhà A đến quán “M” địa chỉ số 36 đường K thuộc khu phố 1, phường L, thành phố Phan Thiết thì dừng lại và đi bộ vào quán xin nước uống. Trong lúc uống nước, A thấy 01 điện thoại di động hiệu Samsung A11 của chị Trần Thị I (sinh năm 1987, hộ khẩu thường trú: thôn 6, xã J, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, tạm trú: 36 đường K, khu phố 1, L, thành phố Phan Thiết) để trên bàn sát quầy bán cơm. Quan sát xung quanh không có ai trông coi tài sản nên A nảy sinh ý định chiếm đoạt. A tiến lại gần chiếc bàn, lén lút lấy trộm điện thoại bỏ vào túi quần rồi nhanh chóng tẩu thoát thì bị cháu Lê Quốc N (sinh năm 2009, hộ khẩu thường trú: thôn 6, xã J, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận) phát hiện truy hô. A nhanh chóng đi ra ngoài lấy xe đạp tẩu thoát. Lúc này cháu N chạy ra phía sau quán báo cho mẹ của mình là bà Trần Thị I biết. Phát hiện bị mất tài sản, bà I liền bắt xe ôm đi về hướng con trai chỉ để tìm A, khi đến khu vực vòng xoay Kênh Bàu thuộc phường L thì bà I phát hiện Nguyễn Thành A, bà I liền truy hô và được người dân xung quanh hỗ trợ bắt giữ A và thu giữ tang vật trên người A.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 260 ngày 23/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự thành phố Phan Thiết, kết luận:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung A11 màu đen trị giá 3.490.000 đồng; tỷ lệ sử d ng còn lại 90%; trị giá 3.141.000 đồng. 01 ốp lưng điện thoại màu xanh trị giá 50.000 đồng; tỷ lệ sử d ng còn lại 50%; trị giá 25.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà A chiếm đoạt trong lần phạm tội này là 3.166.000 đồng.
Về xử lý vật chứng và dân sự: Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại Samsung A11 màu đen và 01 ốp lưng điện thoại màu xanh của bà Trần Thị I. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an thành phố Phan Thiết đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà I. Sau khi nhận lại tài sản bà I không có yêu cầu gì về dân sự.
Đối với phương tiện liên quan là 01 chiếc xe đạp khung sườn bằng Inox màu trắng, quá trình điều tra xác định là tài sản của Nguyễn Thành A và A dùng làm phương tiện để tẩu thoát nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã chuyển vật chứng đến kho tang vật Chi c c thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản chờ xử lý tiếp theo.
Tại phiên tòa sơ thẩm: kiến của đại diện Viện kiểm sát nh n d n thành phố Phan Thiết: Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng số 68/CT/VKS-PT, ngày 12/5/2021 của Viện kiểm sát nh n d n thành phố Phan Thiết.
Đề nghị Hội đồng x t xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành A phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
p d ng: khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành A từ 12 đến 18 tháng tù giam, thời hạn tù Ch từ ngày bắt giam thi hành án.
Về tang vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an thành phố Phan Thiết đã xử lý vật chứng trả lại chiếc điện thoại điện thoại Samsung A11 màu đen và 01 ốp lưng điện thoại màu xanh cho bà Trần Thị I. Đối với phương tiện liên quan là 01 chiếc xe đạp khung sườn bằng Inox màu trắng, quá trình điều tra xác định là tài sản của Nguyễn Thành A và A dùng làm phương tiện để tẩu thoát nên đề nghị tịch thu sung vào công quỹ nhà nước.
Ý kiến của người bị hại: bà Trần Thị I có đơn xin x t xử vắng mặt, không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự, về hình sự không có ý kiến.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ s xem x t đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố t ng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, trình tự thủ t c tố t ng c ng như các quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân dân thành phố Phan Thiết: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c theo quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra c ng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố t ng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ t c tố t ng c ng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó các hành vi, trình tự thủ t c tố t ng c ng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thành A đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng số 68/CT/VKS-PT, ngày 12/5/2021 của Viện kiểm sát nh n d n thành phố Phan Thiết đã truy tố. Bị cáo kh ng định những lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra là hoàn toàn tự nguyện đúng sự thật, bị cáo không bị bức cung và Cáo trạng truy tố là đúng, không oan cho bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người bị hại c ng như các chứng cứ khác có trong hồ sơ v án.
Như vậy, có đủ cơ s kết luận, ngày 01/10/2020, Nguyễn Thành A đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bà Trần Thị I là một chiếc điện thoại di động hiệu Samsung A11 màu đen và 01 ốp lưng điện thoại màu xanh, tổng giá trị tài sản là 3.166.000 đồng thì bị phát hiện bắt giữ. Tại Cơ quan Công an, bị cáo A đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Vì vậy, Cáo trạng số 68/CT/VKS-PT, ngày 12.5.2021 của Viện kiểm sát nh n d n thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Nguyễn Thành A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Nguyễn Thành A là công d n có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật. Bị cáo đã phạm tội trộm cắp tài sản là một chiếc điện thoại di động hiệu Samsung A11 màu đen và 01 ốp lưng điện thoại màu xanh tổng giá trị tài sản là 3.166.000 đồng, với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã x m hại tới quyền s hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần pI tuyên phạt bị cáo bằng một mức án nghiêm khắc đủ để răn đe, giáo d c và tuyên truyền phòng ngừa tội phạm chung.
4 Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thành A không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, chưa có tiền án tiền sự nN bị cáo có nhân thân xấu, sau khi chấp hành án xong, được xóa tích lại thực hiện hành vi phạm tội như trước. Trong quá trình điều tra c ng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, tài sản đã được thu hồi trả cho bị hại đ y là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo trình độ học vấn thấp, mồ côi cả cha và mẹ, không nghề nghiệp, nhận thức rất hạn chế nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, trên cơ s c n nhắc tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nh n th n của bị cáo thấy rằng cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo d c bị cáo tr thành người có ích cho xã hội.
Về ý kiến của Viện kiểm sát nh n d n thành phố Phan Thiết:
kiến của đại diện Viện kiểm sát nh n dân thành phố Phan Thiết về việc áp d ng pháp luật, mức hình phạt là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an thành phố Phan Thiết đã xử lý vật chứng trả lại chiếc điện thoại điện thoại Samsung A11 màu đen và 01 ốp lưng điện thoại màu xanh cho bà Trần Thị I. Đối với phương tiện liên quan là 01 chiếc xe đạp khung sườn bằng Inox màu trắng, quá trình điều tra xác định là tài sản của Nguyễn Thành A và A dùng làm phương tiện để trộm cắp và tẩu thoát nên tịch thu sung vào công quỹ nhà nước.
Bị hại bà Trần Thị I không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự, về hình sự không yêu cầu gì.
[7 Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thành A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ: khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thành A 12 (Mƣời hai) tháng tù giam, thời hạn tù Ch từ ngày bắt giam thi hành án.
[2]. Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự:
-Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc xe đạp khung sườn bằng Inox màu trắng đã qua sử d ng: (Như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 93, ngày: 21/5/2021, giữa Chi c c thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết và Công an thành phố Phan Thiết).
[3]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Thành A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4].Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố t ng hình sự.
Bị cáo Nguyễn Thành A, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27/5/2021). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày Ch từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - VKSND TP. Phan Thiết; - Công an TP. Phan Thiết; - Chi c c THADS TP. Phan Thiết; - Những người tham gia tố t ng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊNTÒA Nguyễn Thị Bích Ngọc |