- Tranh chấp gì? án hình sự — "cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1 Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh K phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2021/HS-ST Ngày : 20/5/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Trần Ái Vy
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Tấn Nghiệp
2/ Ông Vũ Trung Kiên
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Lữ – Thư ký tòa án nhân dân quận Tân Bình - Tp. Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lâm Như Quỳnh - Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 5 năm 2021 tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 60/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2021/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Minh K; sinh năm: 1996; tại TP. Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: 4/19 đường L, Phường H, quận T; Thành phố H; nghề nghiệp: nhân viên giao hàng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Minh K1, sinh năm 1958 và bà: Đỗ Thị Kim D, sinh năm 1961; Hoàn cảnh gia đình: có vợ và 01 con (đã mất năm 2019); Tiền án: không; Tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 01/9/2015, Tòa án Nhân dân quận Tân Bình xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (bản án số 228/2015/HSST, đã chấp hành xong án phạt tù ngày 01/12/2016, thi hành xong án phí tháng 11/2015).
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày: 01/02/2021. (Có mặt).
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm: 1994, địa chỉ: 31 đường B2, Phường B, quận T, Thành phố H. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đỗ Thị Kim D, sinh năm: 1961, địa chỉ: 4/19 đường B2, Phường B, quận T, Thành phố H. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào trưa ngày 23/6/2020, Nguyễn Minh K điều khiển xe máy hiệu Yamaha Exciter biển số 59P2-879.49 màu đỏ đen đi qua nhiều tuyến đường trên địa bàn quận Tân Bình để nhận đơn giao hàng từ ứng dụng Baemin. Khi đến đoạn đường giao nhau giữa Ngô Bệ và Nguyễn Đức Thuận thuộc Phường 13, quận Tân Bình, Khang thấy chị Nguyễn Thị T đang dừng xe sát lề đường bấm điện thoại nên Khang nảy sinh ý định cướp giật chiếc điện thoại của chị Tđể bán lấy tiền tiêu xài. Khang điều khiển xe rẽ phải vào đường Nguyễn Đức Thuận rồi vòng đầu xe lại chạy từ phía sau áp sát vào phía bên trái xe của chị Tvà dùng tay phải giật được chiếc điện thoại của chị Trồi tăng ga tẩu thoát. Sau khi chạy thoát, Khang chạy đến cửa hàng điện thoại di động Quý Thiên tại địa chỉ số 680 Âu Cơ, Phường 14, quận Tân Bình, kiểm tra chiếc điện thoại Khang cướp giật được là điện thoại di động iPhone 6s Plus màu vàng và bán được 1.000.000 đồng, Khang đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình, Nguyễn Minh K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Đới với anh Nguyễn Nin là chủ cửa hàng điện thoại Quý Thiện trình bày: Do thời gian đã lâu, số lượng khách hàng đến giao dịch rất nhiều, anh Nin không ghi sổ sách bán hàng nên không xác định được ngày 23/6/2020 có mua điện thoại di động iPhone 6s Plus của Nguyễn Minh K hay không. Do đó, Công an Phường 13 quận Tân Bình không thu hồi được chiếc điện thoại di động trên.
Theo Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 216/HĐĐGTS-TTHS ngày 16/9/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự: Điện thoại di động hiệu iPhone 6S Plus 64GB màu vàng, hàng chính hãng, đã qua sử dụng, tình trạng hoạt động tốt có đơn giá là 4.500.000 đồng.
Vật chứng vụ án gồm:
+ 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter biển số: 59P2-879.49.
+ 01 điện thoại di động hiệu Coolpad màu xanh đen thu giữ của Nguyễn Minh K.
Phần dân sự: Bị hại là chị Nguyễn Thị T đã nhận bồi thường khắc phục hậu quả của chị Hồ Thị Kim N (vợ của Nguyễn Minh K) với số tiền 4.500.000 đồng nên không có yêu cầu bồi thường, không thắc mắc khiếu nại về sau.
Tại bản cáo trạng số 65/CT-VKSTB ngày 26 tháng 4 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh K về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không có tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đỗ Thị Kim Dung trình bày: số tiền 31.500.000 đồng trả cho anh Khổng Văn Khanh là tiền riêng của bà. Do bà thấy hành vi của bị cáo là sai trái nên bà tự nguyện trả thay cho bị cáo. Bà không có yêu cầu bị cáo trả lại. Riêng đối với chiếc xe biển số: 59P2-879.49 đang bị thu giữ đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1 Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Nguyễn Minh K, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, bị hại, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
2 Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Minh K đã có hành vi dùng xe máy áp sát và chiếm đoạt tài sản của bị hại rồi nhanh chóng tẩu thoát. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt trong vụ án là 4.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ. Việc bị cáo sử dụng xe gắn máy là phương tiện nguy hiểm thực hiện hành vi cướp giật tài sản rồi tăng ga tẩu thoát không những gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó cần áp dụng điểm d Khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo với mức hình phạt tù thật nghiêm nhằm mục đích cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
3 Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét tình tiết: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại, bị cáo đầu th để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
4 Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5 Về tang vật của vụ án:
Đối với xe máy hiệu Yamaha Exciter biển số: 59P2-879.49 do bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, qua xác minh xe do bị cáo đứng tên chủ sở hữu. Sau khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản của chị Nguyễn Thị Thành, ngày 17/7/2020 Khang đã bán xe máy (có làm hợp đồng ủy quyền) cho ông Khổng Văn Khanh, ngày 31/7/2020 ông Khanh đã bán lại xe cho ông Lê Minh Tâm. Ngày 31/7/2020 bà Đỗ Thị Kim Dung (mẹ ruột của Khang) đã trả 31.500.000 đồng cho ông Khanh. Ngày 18/8/2020 ông Khanh và bị cáo đã hủy hợp đồng mua bán xe giữa hai bên. Tại cơ quan điều tra, bà Đỗ Thị Kim N có yêu cầu được nhận lại xe máy biển số: 59P2-879.49. Ông Khổng Văn K, Lê Minh T1 đã nhận lại tiền nên không có yêu cầu gì khác đối với xe trên. Tại phiên tòa hôm nay, bà Dung trình bày bà nhận thấy hành vi của bị cáo là sai trái nên bà tự nguyện trả cho ông Khổng Văn Khanh số tiền 31.500.000 đồng thay cho bị cáo. Xét việc mua bán xe giữa bị cáo và ông Khanh đã hủy bỏ, bị cáo sử dụng xe trên làm phương tiện phạm tội. Do đó Hội đồng xét xử quyết định tịch thu xe trên để nộp Ngân sách Nhà nước. Bà Dung có quyền khởi kiện bị cáo để yêu cầu trả lại số tiền 31.500.000 đồng đã trả cho ông Khanh theo quy định khi có yêu cầu.
Đối với điện thoại di động là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 106, Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1 Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh K phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Minh K 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/02/2021.
[2] Về xử lý vật chứng:
- Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Coolpad màu xanh đen, số imei 1: 863310041151241, số imei 2: 863310040983800.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter biển số: 59P2-879.49, số máy: E886149, số khung: KY119724.
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 50/PNK ngày 31/3/2021 của Đội CSĐTTP về TTXH Công an quận Tân Bình).
3 Về phần dân sự của vụ án: Bà Đỗ Thị Kim Dung có quyền khởi kiện bị cáo để yêu cầu trả lại số tiền 31.500.000 đồng theo quy định khi có yêu cầu.
[4 Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5 Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo, người có uyền lợi, nghĩa vụ liên có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo, bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Công an quận Tân Bình; - VKSND quận Tân Bình; - Chi cục THADS quận Tân Bình; - TAND, VKSND Tp. Hồ Chí Minh; - Phòng HSNVCS CA Tp. HCM; - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Tô Trần Ái Vy THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Trần Ái Vy Tô Trần Ái Vy THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Trần Ái Vy |