vanban.org

Bản án 69/2021/HNGĐST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Tr.

Về con cái: Giao các cháu Võ Nhật A, sinh ngày 04 tháng 06 năm 2013 và Võ Nguyễn Diệp A, sinh ngày 12/5/2019 cho chị Nguyễn Thị Tr chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Tr - Võ Minh T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Tr.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲ CHÂU
NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2021/HNGĐST
Ngày: 21-12-2021
V/việc: " Tranh chấp hôn nhân và gia đình "

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Trần Hoài Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lô Thị Hà.

Bà Hà Thị Ngọc Hiếu.

- Thư ký phiên toà: Ông Lô Văn Linh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Lương Văn Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 44/2021/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2021 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tr. Sinh năm: 1993.

Trú tại: Khối 3, thị trấn TL, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.

Có mặt.

- Bị đơn: Anh Võ Minh T. Sinh năm: 1984.

Trú tại: Khối 3, thị trấn TL, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.

Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/10/2021, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tr trình bày: Chị Nguyễn Thị Tr và anh Võ Minh T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định vào ngày 06 tháng 7 năm 2012 tại UBND thị trấn TL, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không tự giải quyết được. Do tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, quan hệ vợ chồng không còn tình cảm và không còn hạnh phúc. Vì vậy, chị Tr làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Võ Minh T.

Về quan hệ con cái: Chị Nguyễn Thị Tr và anh Võ Minh T có hai con chung là cháu Võ Nhật A, sinh ngày 04 tháng 6 năm 2013 và cháu Võ Nguyễn Diệp A, sinh ngày 12/5/2019. Nếu ly hôn thì chị Tr xin nhận nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu anh T phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Ngoài ra, hai người không nhận nuôi con nuôi và không ai có con riêng.

Về tài sản: Chị Nguyễn Thị Tr không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản.

Sau khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đương sự và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ và hòa giải cho anh Võ Minh T, tuy nhiên anh T không có mặt tại Tòa án để tham gia giải quyết vụ án. Qua xác minh tại UBND thị trấn TL được biết, sau khi nhận được Thông báo thụ lý vụ án, các Giấy triệu tập đương sự và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ và hòa giải thì cán bộ UBND thị trấn TL đã trực tiếp đi giao cho anh T. Tuy nhiên, anh T không có mặt ở nhà nên việc tống đạt không thực hiện được. Theo thông tin của mẹ đẻ của anh T (Bà Trần Thị T) cung cấp cũng như kết quả xác minh tại Ban công an thị trấn TL được biết, anh Võ Minh T có hộ khẩu thường trú tại khối 3, thị trấn TL, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Hiện nay anh T không có mặt tại địa phương, chỉ biết anh T đi làm tại tỉnh Hưng Yên nhưng không rõ địa chỉ, anh T cũng không làm thủ tục khai báo tạm vắng theo quy định. Ngoài ra, anh T có biết việc chị Tr làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án và chuẩn bị xét xử, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu đã trực tiếp tiến hành thực hiện việc tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập phiên tòa cho anh T nhưng anh T không có mặt ở nhà nên không thực hiện được việc tống đạt các văn bản nói trên. Vì vậy, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu đã tiến hành niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập phiên tòa theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, con chung của chị Nguyễn Trị Tr và anh Võ Minh T - cháu Võ Nhật A trình bày: Nếu bố mẹ ly hôn thì có nguyện vọng được ở với mẹ.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Cho chị Tr được ly hôn với anh T, giao hai con chung cho chị Tr nuôi dưỡng và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T. Áp dụng điều 147 BLTTDS, buộc chị Tr phải chịu án phí DSST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp giữa chị Nguyễn Thị Tr và anh Võ Minh T là “Ly hôn”. Vì vậy, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu theo quy định tại khoản 1 điều 28 và điểm a khoản 1 điều 35 BLTTDS.

Về sự vắng mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Võ Minh T không có mặt theo Giấy triệu tập của Tòa án và cố tình giấu địa chỉ. Đây là lần thứ hai Tòa án mở phiên tòa và triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Xét thấy, bị đơn không có yêu cầu phản tố. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 227 và khoản 3 Điều 228 BLTTDS, điểm a khoản 2 điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

Về nội dung:

Quan hệ tình cảm: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Tr và anh Võ Minh T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và có đăng ký kết hôn phù hợp với quy định của pháp luật. Quá trình chung sống thì giữa hai người đã xảy ra mâu thuẫn, nay chị Trang nhất quyết ly hôn. Thấy rằng, hôn nhân của chị Tr - anh T không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, nên chấp nhận yêu cầu của chị Tr, cho chị Nguyễn Thị Tr được ly hôn với anh Võ Minh T, điều này là phù hợp với thực tế cuộc sống và cũng là phù hợp với quy định tại điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Quan hệ con cái: Vợ chồng có hai người con chung, ngoài ra không ai có con riêng và không nhận nuôi con nuôi. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Tr đề nghị được giao nuôi cả hai con chung và không yêu cầu anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Thấy rằng, việc giao con chung chưa thành niên cho ai nuôi sau khi vợ chồng ly hôn là xuất phát từ quyền lợi của người con được nuôi dưỡng trong điều kiện tốt nhất về mọi mặt. Theo lời khai của con chung - cháu Võ Nhật A thì nếu bố mẹ ly hôn đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Xét thấy, bản thân chị Tr có sức khỏe, có nhận thức và công việc ổn định để nuôi con; bên cạnh đó, anh T hiện không có mặt tại địa phương và không xác định được địa chỉ nơi anh T đang ở và làm việc nên yêu cầu của chị Tr là phù hợp với quy định của pháp luật. Cần chấp nhận yêu cầu của chị Tr, giao hai con chung cho chị Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Võ Minh T.

Quan hệ tài sản: Chị Nguyễn Thị Tr không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản. Vì vậy, nên miễn xét.

Về án phí: Cần buộc chị Nguyễn Thị Tr phải chịu án phí DSST về ly hôn.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 147 BLTTDS;

- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Tr. Cho chị Nguyễn Thị Tr được ly hôn với anh Võ Minh T.

2. Về con cái:

- Giao các cháu Võ Nhật A, sinh ngày 04 tháng 06 năm 2013 và Võ Nguyễn Diệp A, sinh ngày 12/5/2019 cho chị Nguyễn Thị Tr chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành.

- Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Võ Minh T.

- Anh Võ Minh T có quyền đi lại, thăm nom và giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tr phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST về ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0006302 ngày 18 tháng 10 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu. Chị Tr đã nộp đủ án phí DSST.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Tr có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án và anh Võ Minh T có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ