- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh châp ly hôn, nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thúy H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TAN CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 69/2021/HNGĐ-ST Ngày: 16/9/2021 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH ANGIANG.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Quốc Dũng;
2. Ông Nguyễn Thanh Tuấn.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Minh Sang - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 15/2021/TLST-HNGĐ ngày 19/01/2021 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 90/2021/QĐST-HNGĐ ngày 23/6/2021, thông báo mở lại phiên tòa số: 175 ngày 30/8/2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thúy H, sinh năm 1992; địa chỉ cư trú: Số 535, ấp Phước Thọ, xã Đa Phước, huyện An Phú, tỉnh An Giang; có đơn xin vắng mặt ngày 19/8/2021
- Bị đơn: Anh Đinh Thanh T, sinh năm 1992; địa chỉ cư trú: Số 684, tổ 17, ấp Vĩnh Tường 1, xã Châu Phong, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 07/01/2021, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Trần Thị Thúy H trình bày: Về hôn nhân giữa chị H với anh Đinh Thanh T do quen biết nhau, cha mẹ hai bên đồng ý, chị H với anh T tổ chức lễ cưới vào năm 2015, hai người đăng ký kết hôn tại UBND xã Châu Phong, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số: 48/2015, quyền số 01/2015, ngày 02/4/2015. Sau khi cưới nhau vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp, nảy sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không còn hạnh phúc như trước. Chị H với anh T đã không còn sống chung từ năm 2020 đến nay. Tình cảm của chị H đối với anh T không còn, yêu cầu ly hôn với anh T.
- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị H và anh T có một đứa con chung tên Đinh Hoàng Gia H, sinh ngày 29/01/2016 hiện cháu đang sống chung với chị H. Khi ly hôn chị H yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị H với anh T không có tài sản và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Đinh Thanh T đã được Tòa án tống đạt các văn bản hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do;
Biên bản xác minh ngày 05/5/2021 của bà Nguyễn Bích V là Chi hội trưởng Chi Hội phụ nữ ấp vĩnh Tường 1, xã Châu Phong cung cấp về tình trạng hôn nhân của chị H với anh T thể hiện: Chị H với anh T cưới nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Châu Phong. Về tình cảm hai người đã xảy ra mâu thuẫn từ một năm nay nhưng giữ hai bên không có động thái hàn gắn lại với nhau.
Biên bản xác minh ngày 05/5/2021 của ông Nguyễn Khắc T là trưởng ban nhân dân ấp Vĩnh Tường 1, xã Châu phong cung cấp thông tin: Giữa chị H với anh T cưới nhau và có dăng ký kết hôn tại UBND xã Châu phong, hai người không còn sống chung hơn 01 năm nay, anh T làm nghề xây dựng, gần đây anh T đi Thành Phố Hồ Chí Minh làm ăn. Chị H làm công nhân ở cửa hàng Bách hóa xanh, mâu thuẫn vợ chồng thế nào địa phương không nắm.
Biên bản xác minh ngày 12/5/2021 Công an xã Châu Phong cung cấp: Anh Đinh Thanh T, sinh năm 1992 có hộ khẩu thường trú tại tổ 17, ấp Vĩnh Tường 1, xã Châu Phong, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, anh T vẫn còn hộ khẩu tại địa chỉ trên, anh T có về địa phương.
Toà án tiến hành lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hòa giải nhưng không thực hiện được do anh T vắng mặt.
Hội đồng xét xử công bố biên bản xác minh ngày 05/5/2021 của Chi hội trưởng Chi Hội phụ nữ, ấp Vĩnh Tường 1, xã Châu Phong, biên bản xác minh ngày 05/5/2021 của ông Nguyễn Khắc T, biên bản xác minh của Công an xã Châu Phong ngày 12/5/2021, biên bản không lấy được lời khai của anh T.
Tại phiên tòa, chị H và anh T vắng mặt,
- Ý kiến của Kiểm sát viên:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong thời gian chuẩn bị xét xử. Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Việc tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.
Ý kiến về giải quyết vụ án, chị Trần Thị Thúy H và anh Đinh Thanh T có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, năm 2020 giữa chị H với anh T có phát sinh mâu thuẫn. Chị H với anh T đã không còn sống chung thời gian dài. Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị H với anh T có 01 con chung tên Đinh Hoàng Gia H, sinh ngày 29/01/2016 hiện cháu đang sống chung với chị H, đề nghị giao con cho chị H nuôi dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Thẩm quyền: Chị Trần Thị Thúy H khởi kiện “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” với anh Đinh Thanh T, sinh năm 1992; địa chỉ cư trú: Tổ 22, ấp Vĩnh Tường 1, xã Châu Phong, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Xét, quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí và Tòa án thụ lý giải quyết.
Biên bản xác minh ngày 12/5/2021 Công an xã Châu Phong cung cấp: Anh Đinh Thanh T, sinh năm 1992 có hộ khẩu thường trú tại tổ 17, ấp Vĩnh Tường 1, xã Châu Phong, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, anh T vẫn còn hộ khẩu tại địa chỉ trên, anh T có về địa phương.
Sự vắng mặt của đương sự: Chị Trần Thị Thúy H có đơn xin vắng mặt, anh Đinh Thanh T vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thúy H với anh Đinh Thanh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Châu Phong, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 48/2015, quyền số 01/2015, ngày 02/4/2015. Xét, hôn nhân giữa chị H và anh T là hợp pháp.
Chị H khai, quá trình chung sống chị H và anh T phát sinh mẫu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp, nảy sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không còn hạnh phúc như trước. Chị H với anh T đã không còn sống chung từ năm 2020 đến nay. Tình cảm của chị H đối với anh T không còn, yêu cầu ly hôn với anh T.
Biên bản xác minh ngày 05/5/2021 của bà Nguyễn Bích V là Chi hội trưởng Chi Hội phụ nữ ấp vĩnh Tường 1, xã Châu Phong cung cấp về tình trạng hôn nhân của chị H với anh T thể hiện: Chị H với anh T cưới nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Châu Phong. Về tình cảm hai người đã xảy ra mâu thuẫn từ một năm nay nhưng giữ hai bên không có động thái hàn gắn lại với nhau.
Biên bản xác minh ngày 05/5/2021 của ông Nguyễn Khắc T là trưởng ban nhân dân ấp Vĩnh Tường 1, xã Châu phong cung cấp thông tin: Giữa chị H với anh T cưới nhau và có dăng ký kết hôn tại UBND xã Châu phong, hai người không còn sống chung hơn 01 năm nay, anh T làm nghề xây dựng, gần đây anh T đi Thành Phố Hồ Chí Minh làm ăn. Chị H làm công nhân ở cửa hàng Bách hóa xanh, mâu thuẫn vợ chồng thế nào địa phương không nắm
Theo khoản 2 Điều 17, Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp,… và lý do chính đáng khác”;
“Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau”.
Chị H với anh T có thời gian dài không sống chung, hai người không tự hàn gắn lại được, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Giữa chị H với anh T đã sống xa cách nhau từ năm 2020 đến nay.
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét, chấp nhận yêu cầu của chị H ly hôn đối với anh T.
Về con chung: Chị H với anh T, trong thời kỳ hôn nhân hai người có 01 con chung tên Đinh Hoàng Gia H, sinh ngày 29/01/2016 hiện cháu đang sống chung với chị H, chị H yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Xét, giao Đinh Hoàng Gia H, sinh ngày 29/01/2016, cho chị H nuôi dưỡng cho đến khi cháu thành niên và có khả năng lao động. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Đinh Thanh T trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H khai giữa chị với anh T không có tài sản và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, không đặt ra giải quyết. Nếu sau này anh T cho rằng trong thời kỳ hôn nhân giữa anh T với chị H có tài sản, nợ chung thì anh T vẫn có quyền khởi kiện ra tòa yêu cầu giải quyết trong vụ án khác.
Về án phí: Chị Trần Thị Thúy H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị H được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số TU/2019/0006446 ngày 14/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu;
Anh Đinh Thanh T không phải chịu tiền án phí hôn nhân.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thúy H.
Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thúy H được ly hôn với anh Đinh Thanh T;
Giấy chứng nhận kết hôn số 48/2015, quyền số 01/2015, ngày 02/4/2015 do UBND xã Châu Phong, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang cấp cho chị Trần Thị Thúy H với anh Đinh Thanh T không còn giá trị pháp luật.
Về con chung: Giao cháu Đinh Hoàng Gia H, sinh ngày 29/01/2016, cho chị H nuôi dưỡng cho đến khi cháu thành niên và có khả năng lao động. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị Trần Thị Thúy H cùng gia đình (nếu có) không được cản trở anh Đinh Thanh T trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Nếu sau này anh Đinh Thanh T cho rằng trong thời kỳ hôn nhân giữa anh T với chị H có tài sản, nợ chung thì anh T vẫn có quyền khởi kiện chị H ra tòa yêu cầu giải quyết trong vụ án khác
Về án phí: Chị Trần Thị Thúy H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị H được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số TU/2019/0006446 ngày 14/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu;
Anh Đinh Thanh T không phải chịu tiền án phí hôn nhân.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Viện KSND TX (2); - Tòa án nhân dân tỉnh (1); - Thi hành án DS TX (1); - UBND xã Châu Phong - Các đương sự; - Lưu hồ sơ (1), - Lưu văn phòng (1). | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Thế Minh |