vanban.org

Bản án 69/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau Tuyên án 10/03/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Nguyễn Việt S. Buộc bà Nguyễn Thị Trúc M và ông Thạch Sà R cùng liên đới trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền nợ là 5.

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ông S yêu cầu bà M và ông R trả tiền nợ vay"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Nguyễn Việt S. Buộc bà Nguyễn Thị Trúc M và ông Thạch Sà R cùng liên đới trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền nợ là 5.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2021/DS-ST
Ngày 10 - 3 - 2021
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sơn Ngọc Trọng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Quốc Toàn.

Bà Nguyễn Kim Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Ngày 10 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 715/2020/TLST- DS ngày 18 tháng 12 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2021/QĐXXST-DS, ngày 28 tháng 01 năm 2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Việt S, sinh năm 1977 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Khóm A, thị V, huyện T, tỉnh C.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Trúc M, sinh năm 1985 (vắng mặt).

Ông Thạch Sà R, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Cùng cư trú: Ấp C, xã R, huyện T, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 13/12/2020, các văn bản kèm theo và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Việt S trình bày:

Vào ngày 14/7/2018 bà Nguyễn Thị Trúc M có hỏi mượn của ông với số tiền là 5.000.000 đồng. Thời gian thanh toán là sau một tháng tức ngày 14/8/2018. Quá trình mượn tiền thì bà M có ký biên nhận nợ ngày 14/7/2018. Ông có liên hệ yêu cầu trả tiền nhiều lần nhưng bà M không thực hiện và cứ hứa hẹn cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, hiện tại bà Nguyễn Thị Trúc M và ông Thạch Sà R là vợ chồng nên cùng có trách nhiệm trả nợ cho ông. Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Trúc M và ông Thạch Sà R trả cho ông với số tiền là 5.000.000 đồng, tại phiên tòa ông không yêu cầu tính lãi suất.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bà Nguyễn Thị Trúc M và ông Thạch Sà R đúng quy định pháp luật. Nhưng bà Nguyễn Thị Trúc M và ông Thạch Sà R vắng mặt và không cung cấp lời khai, tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

1

Về thủ tục tố tụng:

Tranh chấp giữa ông Nguyễn Việt S với bà Nguyễn Thị Trúc M và ông Thạch Sà R được xác định là “Hợp đồng vay tài sản” là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, bà Nguyễn Thị Trúc M và ông Thạch Sà R có nơi cư trú tại huyện Phú Tân thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ được quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Nguyễn Thị Trúc M và ông Thạch Sà R được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng nhiều lần, nhưng bà Nguyễn Thị Trúc M và ông Thạch Sà R không cung cấp chứng cứ và vắng mặt không có lý do. Nay căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Trúc M và ông Thạch Sà R.

Về nội dung tranh chấp:

Ông Nguyễn Việt S xác định giữa ông và bà Nguyễn Thị Trúc M có thỏa thuận vay tiền cụ thể là vào ngày 14/7/2018 bà Nguyễn Thị Trúc M có hỏi vay của ông với số tiền là 5.000.000 đồng. Thời gian thanh toán là ngày 14/8/2018. Quá trình vay tiền thì bà M có ký biên nhận nợ. Từ khi vay đến nay bà M không thanh toán tiền cho ông và còn nợ 5.000.000 đồng.

Bà Nguyễn Thị Trúc M có vay tiền của ông Nguyễn Việt S là thực tế xảy ra do bà M không thực hiện. Phía ông S đã nhiều lần yêu cầu bà M thực hiện nhưng bà M không thanh toán cho ông S. Ông S có cung cấp một Giấy nhận nợ lập ngày 14/7/2018 có nội dung về việc bà M có hỏi vay và có ký tên đúng như ông S trình bày. Hiện tại ông R và bà M vẫn chung sống với nhau như vợ chồng nên buộc ông R và bà M có nghĩa vụ liên đới trả số tiền cho ông S là có cơ sở. Đối với bà Nguyễn Thị Trúc M và ông Thạch Sà R không có ý kiến gì về nội dung khởi kiện và chứng cứ do ông Nguyễn Việt S cung cấp, bà Nguyễn Thị Trúc M và ông Thạch Sà R cũng không có yêu cầu phản tố. Do đó bà Nguyễn Thị Trúc M và ông Thạch Sà R phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho ông Nguyễn Việt S, đồng thời buộc bà Nguyễn Thị Trúc M và ông Thạch Sà R trả cho Nguyễn Việt S với số tiền còn nợ là 5.000.000 đồng là có cơ sở. Tại phiên tòa ông Nguyễn Việt S không yêu cầu tính lãi suất nên không đặt ra xem xét.

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ, nay buộc bà Nguyễn Thị Trúc M và ông Thạch Sà R phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; nguyên đơn được hoàn lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 26; 35; 39, 147 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 463, 466 và 468 của Bộ luật dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Nguyễn Việt S. Buộc bà Nguyễn Thị Trúc M và ông Thạch Sà R cùng liên đới trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền nợ là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Buộc bà Nguyễn Thị Trúc M và ông Thạch Sà R cùng liên đới phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Ông Nguyễn Việt S đã nộp tạm ứng số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), tại biên lai thu tiền số 0012315 ngày 18/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, nay hoàn lại toàn bộ cho Nguyễn Việt S.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Ông Nguyễn Việt S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị Trúc M và ông Thạch Sà R có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ