- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Gia T phạm tội“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69 /2020/HSST Ngày: 29/6/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Lợi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trọng
Bà Nguyễn Thị Thanh Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Cù Ngô Ngọc Thịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 06 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 62/2020/TLST - HS ngày 11/6/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2020/QĐXXST - HS ngày 16/6/2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Gia T, sinh năm 1992; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn Đ, xã ĐPY, huyện CM, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Gia M và bà Vương Thị H; vợ, con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 07/7/2015, Công an huyện CM xử phạt hành chính số tiền 350.000 đồng về hành vi Mua số lô, số đề (nộp phạt ngày 08/7/2015); Ngày 28/7/2015, Công an huyện Chương Mỹ xử phạt hành chính số tiền 350.000 đồng về hành vi Mua số đề (nộp phạt ngày 29/7/2015);
Danh chỉ bản số 113 do Công an huyện Chương Mỹ lập ngày 20/02/2020; Bị tạm giữ từ ngày 18/02/2020 đến ngày 27/02/2020 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Anh Nguyễn Gia H1, sinh năm 1983 (có mặt).
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã ĐPY, huyện CM, Thành phố Hà Nội.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Việt H2, sinh năm 1987 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn PY, xã TY, huyện CM, Thành phố Hà Nội.
Người làm chứng: Anh Trần Văn S (tức T), sinh năm 1993 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã ĐPY, huyện CM, Thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 12/02/2020, T đi bộ sang nhà anh Nguyễn Gia H1 (sinh năm 1983 là chú họ của T) tại thôn Đ, xã ĐPY, huyện CM, Tp. Hà Nội hỏi mượn xe của anh H1 để đi chợ mua thức ăn. Do T là cháu họ của anh H1 nên anh H1 tin tưởng và đồng ý cho T mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh; chưa có biển kiểm soát (anh H1 mới mua chiếc xe này vào ngày 16/12/2019). Sau khi mượn được xe, T không đi mua thức ăn mà gọi điện thoại cho Trần Văn S (tức T; sinh năm 1993; trú tại thôn Đ, xã ĐPY, huyện CM, Tp. Hà Nội) nhờ S mang chiếc xe máy của anh H1 đi cầm cố lấy tiền tiêu xài. Sau đó, T gặp S tại khu vực sân bóng xóm B thuộc xã TY, huyện CM, Tp. Hà Nội, S dẫn T đi gặp anh Nguyễn Việt H2 (sinh năm 1987; trú tại thôn PY, xã TY, huyện CM, Tp. Hà Nội). Tại đây, T nói cần tiền nên mang chiếc xe máy trên đi cầm cố. Khi anh H2 hỏi về nguồn gốc chiếc xe máy là của ai, thì T nói dối chiếc xe máy là của T đang chờ đăng ký biển kiểm soát và không có bất kỳ giấy tờ gì liên quan. Ban đầu, do xe không có đăng ký nên anh H2 không đồng ý nhận cầm cố. Tuy nhiên do có quen biết với anh S, nên anh H2 đồng ý cho T vay số tiền 4.500.000 đồng và giữ chiếc xe máy lại để làm tin. Việc vay số tiền 4.500.000 đồng giữa anh H2 và T không được lập thành văn bản. Sau khi vay được số tiền trên từ anh H2, T đi về nhà và sử dụng, tiêu xài cá nhân.
Do không thấy T mang xe máy đến trả nên anh H1 đã đến nhà T để hỏi nhưng không thấy T ở nhà. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 13/02/2020, anh H1 gặp T tại chợ ĐPY và hỏi về chiếc xe máy của mình, T nói với anh H1 là đã mang chiếc xe máy của anh H1 đi cầm cố để lấy tiền tiêu xài. Lúc này, T hứa đưa cho anh H1 số tiền 2.200.000 đồng để anh H1 chuộc xe về. Anh H1 yêu cầu T đi cùng để chuộc xe nhưng khi đi đến khu vực chợ TY, lợi dụng lúc anh H1 không để ý, T đã bỏ trốn. Do không liên lạc được với T, anh H1 đã đến Công an xã ĐPY để trình báo sự việc nêu trên. Ngày 18/02/2020, Nguyễn Gia T đã đến Công an xã ĐPY đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Vật chứng vụ án: 01 chiếc xe máy Honda Wave Alpha, màu sơn xanh; số khung: 1304423; số máy: 433858; không có biển kiểm soát; đã qua sử dụng.
Sau khi được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chương Mỹ thông báo chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn xanh là tang vật của vụ án, anh H2 đã tự nguyện giao nộp chiếc xe máy nêu trên để phục vụ công tác điều tra.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐG ngày 26/02/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Chương Mỹ kết luận: “01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha; Màu sơn xanh; Số khung 433858; Số máy 1304423 (Đã qua sử dụng); Không có biển kiểm soát; Xe chưa được đăng ký. Xe mua năm 2019, giá trị còn lại là: 17.000.000 đồng”.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Gia H1 đã nhận lại tài sản, không đề nghị bồi thường thêm gì khác. Anh Nguyễn Việt H2 không đề nghị Nguyễn Gia T phải trả lại cho anh H2 số tiền 4.500.000 đồng mà T đã vay.
Cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 29/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Nguyễn Gia T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (BLHS 2015).
Tại phiên toà:
- Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung tại Cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 174; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 BLHS 2015, xử phạt Nguyễn Gia T từ 12 đến 15 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Truy thu của bị cáo số tiền 4.500.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người liên quan; người làm chứng: Xét thấy những người này đã được triệu tập hợp lệ nhưng người liên quan có đơn xin vắng mặt, người làm chứng vắng mặt. Trong quá trình điều tra những người này đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt.
Về nội dung:
Tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, người làm chứng và các tài liệu khác Cơ quan điều tra đã thu thập, đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng sự tin tưởng của chú họ là anh Nguyễn Gia H1, ngày 12/02/2020 Nguyễn Gia T đã hỏi mượn rồi thực hiện hành vi chiếm đoạt 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha trị giá 17.000.000 đồng. Hành vi của Nguyễn Gia T đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Khoản 1 Điều 174 BLHS 2015.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Nguyễn Gia T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Khoản 1 Điều 174 BLHS 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự ở địa phương. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc để đảm bảo tính răn đe và giáo dục chung.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân bị cáo năm 2015 bị Công an huyện Chương Mỹ xử phạt hành chính bằng hình thức Phạt tiền về hành vi Mua số lô, số đề nhưng đã được xóa.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đầu thú là các tình tiết giảm nhẹ theo Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 được Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[2.4] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha; màu sơn xanh; số khung 433858; số máy 1304423; không có biển kiểm soát; xe chưa được đăng ký là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Gia H1. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản trên cho anh Nguyễn Gia H1. Anh H1 đã nhận lại tài sản nên không đề nghị bồi thường gì thêm.
- Số tiền 4.500.000 đồng T vay anh Nguyễn Việt H2, anh H2 không yêu cầu T trả lại, đây là tiền thu lời bất chính nên truy thu số tiền này để sung vào ngân sách nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Gia T phạm tội“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 174; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, phạt:
Nguyễn Gia T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 18/02/2020 đến ngày 27/02/2020.
3.Về trách nhiệm dân sự: Truy thu của Nguyễn Gia T số tiền 4.500.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hà Nội; - Sở Tư pháp Tp. Hà Nội; - VKSND huyện Chương Mỹ; - Công an huyện Chương Mỹ; - Chi cục THADS huyện Chương Mỹ; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - THA HS; - Lưu HS;VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thế Lợi |