vanban.org

Bản án 69/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 05/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C n cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51, của Bộ luật Hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017).

Xử phạt bị cáo Sử H ng Đ 01 (một) n m 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù t nh từ ngày 10/01/2020. C n cứ vào các điều 135 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "69 Sử Hồng Đ 173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? C n cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51, của Bộ luật Hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017).
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2020/HS-ST
Ngày: 05 - 6 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lại Thị Đắc

Bà Đặng Thị Huê

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Diểm – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đ Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 n m 2020 tại tr s Tòa án nhân dân Quận 8 Thành phố H Ch Minh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 74/2020/TLST-HS ngày 23 tháng 4 n m 2020, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 84/2020/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 n m 2020 đối với bị cáo:

Sử H ng Đ (tên gọi khác: Út Trí); sinh ngày 25 tháng 12 n m 1988, tại Thành phố H Chí Minh; Nơi cư trú: 23/3 MHĐ Phường ML Quận T, Thành phố H Ch Minh); nghề nghiệp: Ph h ; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sử H ng N (chết) và bà Nguyễn Thị X; chung sống như vợ ch ng với Nguyễn Thị N1 sinh n m 1989 và có 01 con sinh n m 2009.

Tiền án:

- Ngày 16/3/2007, Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố H Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu th tài sản do người khác phạm tội mà có”. Ngày 18/4/2007, Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố H Chí Minh xử phạt 01 n m tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Tổng hợp với hình phạt buộc Đ phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 01 n m 06 tháng tù. Ngày 14/8/2008, Đ chấp hành xong hình phạt tù nhưng qua xác minh thi hành án được biết đối với các khoản Sử H ng Đ phải thi hành nộp án phí hình sự sơ thẩm của 02 bản án thì Chi c c Thi hành án dân sự Quận 6 chưa có th lý thi hành về khoản này. Xác minh tại Chi c c Thi hành án Quận 8 được biết từ n m 2007 đến nay chưa nhận được h sơ ủy thác về việc Sử H ng Đ phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quyết định của 02 bản nêu trên của Tòa án nhân dân Quận 6.

- Ngày 10/11/2014, Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố H Chí Minh xử phạt 05 n m tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/10/2018. Qua xác minh chưa nộp án phí dân sự sơ thẩm và chưa thi hành xong khoản nộp phạt sung quỹ nhà nước.

Nhân thân:

- Ngày 22/8/2009, Tòa án nhân dân Quận Bình Tân, Thành phố H Chí Minh xử phạt 04 n m 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 21/8/2013 Đ chấp hành xong toàn bộ bản án.

- Ngày 08/01/2020, Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố H Chí Minh ra Quyết định áp d ng biện pháp xử lý hành ch nh đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc đối với Sử H ng Đ tại Cơ s cai nghiện ma túy Phú Đức, thời hạn 24 tháng.

Bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 10/01/2020 đến nay (có mặt).

- Bị hại: Chị Lâm Kim T sinh n m: 1970; Nơi cư trú: 5/28/5/5 MC Phường ML Quận T Thành phố H Ch Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ v án và diễn biến tại phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài nên vào khoảng 04 giờ ngày 24/10/2019, Sử H ng Đ đi bộ một mình vào trong hẻm số 5 MC Phường 15, Quận 8, Thành phố H Ch Minh tìm tài sản sơ h để trộm cắp. Khi đi đến trước số 5/28/5/5 MC Phường 15, Quận 8, Thành phố H Ch Minh thì Đ nhìn thấy ph a trước cửa nhà trên có dựng 01 chiếc xe mô tô biển số 51L7-2812 không có người trông coi. Đ tiến tới kiểm tra phát hiện xe không khóa cổ nên Đ dùng tay đẩy chiếc xe trên ra đầu hẻm số 5 MC. Sau đó, Đ dùng tay bứt và nối dây điện ph a dưới cổ xe, nổ máy xe điều khiển xe đến 01 quán cà phê võng trên đường Phú Định Phường 16, Quận 8 r i ngủ.

Đến 13 giờ cùng ngày, Đ thức dậy và điều khiển xe đi đến đường An Dương Vương Phường 16, Quận 8. Khi đi ngang qua bãi đất trống kế số 94 An Dương Vương Phường 16, Quận 8, Đ gỡ dàn ốp nhựa của chiếc xe bán cho 01 người ph nữ thu mua ve chai được số tiền 20.000 đ ng. Sau đó Đ tháo biển số xe bỏ vào trong cốp r i điều khiển xe đến tiệm game bắn cá tại số 452 An Dương Vương Phường 10, Quận 6 để chơi. Đến khoảng 20 giờ ngày 24/10/2019 Công an Phường 10, Quận 6 kiểm tra tiệm game trên và phát hiện chiếc xe của Đ, nghi vấn là tài sản trộm cắp nên đã đưa Đ cùng chiếc xe về tr s làm việc. Tại đây Đ khai nhận hành vi trộm cắp như đã nêu trên.

Do địa điểm phạm tội của Đ xảy ra tại Quận 8 nên Công an Phường 10, Quận 6 đã chuyển h sơ cho Công an Phường 15, Quận 8 giải quyết theo đúng thẩm quyền. Công an Phường 15, Quận 8 tiến hành kiểm tra việc sử d ng trái phép chất ma túy thì phát hiện Đ dương t nh với ma túy tổng hợp. Do Đ không có nơi cư trú ổn định nên ngày 28/10/2019 Công an Phường 15, Quận 8 làm thủ t c đưa Đ vào Cơ s xã hội Thanh Thiếu niên 2 để quản lý cắt cơn giải độc. Đến ngày 08/01/2020, Tòa án nhân dân Quận 8 ra Quyết định áp d ng biện pháp xử lý hành ch nh đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc đối với Sử H ng Đ tại Cơ s cai nghiện ma túy Phú Đức thời hạn 24 tháng.

Sau khi phát hiện bị mất tài sản, chị Lâm Kim T là chủ tài sản đã trình báo Công an Phường 15, Quận 8.

Ngày 18/11/2019 Hội đ ng định giá tài sản trong tố t ng hình sự kết luận giá trị còn lại của chiếc xe mô tô biển số 51L7-2812 là 650.000 đ ng.

Ngày 02/01/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 ra Quyết định kh i tố v án kh i tố bị can và bắt tạm giam đối với Sử H ng Đ về tội “Trộm cắp tài sản”. Quá trình điều tra Sử H ng Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Vật chứng trong v án: 01 xe mô tô biển số 51L7-2812 do chị Lâm Kim T đứng tên s hữu. Ngày 30/3/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 tiến hành xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho chị T.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Lâm Kim T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bị cáo b i thường thiệt hại.

Tại bản Cáo trạng số 81/ CT-VKS ngày 22/4/2020 Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 Thành phố H Ch Minh truy tố bị cáo Sử H ng Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017).

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 Thành phố H

Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Sử H ng Đ về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân t ch đánh giá t nh chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Viện kiểm sát đề nghị Hội đ ng xét xử áp d ng điểm b khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017) xử phạt bị cáo Sử H ng Đ từ 12 tháng đến 18 tháng tù; Không áp d ng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo. Về vật chứng thu giữ và trách nhiệm dân sự quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả tài sản cho bị hại và bị hại không có yêu cầu b i thường đối với bị cáo nên không đề cập giải quyết.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận; các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội n n n hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án c n cứ vào các tài liệu trong h sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa Hội đ ng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an Quận 8 Điều tra viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng. Do đó các hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai bị hại người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong h sơ v án xác định vào khoảng 04 giờ ngày 24/10/2019, tại số 5/28/5/5 MC Phường 15, Quận 8, Thành phố H Ch Minh, bị cáo Sử H ng Đ có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe gắn máy biển số 51L7-2812 của chị Lâm Kim T có giá trị là 650.000 đ ng hành vi của bị cáo Sử H ng Đ đã kịp thời bị phát hiện và bị Công an bắt giữ.

Điều 173 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017) quy định về tội “Trộm cắp tài sản” như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a. ….

b. Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170,171,172,174,175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

Bị cáo là người có đủ n ng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi với lỗi cố ý đã xâm phạm đến quyền s hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Mặc dù tài sản bị cáo trộm cắp có trị giá dưới 2.000.000 đ ng nhưng trước đó bị cáo đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án t ch mà nay còn vi phạm. Như vậy Hội đ ng xét xử có c n cứ xác định hành vi của bị cáo Sử H ng Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã nhiều lần bị kết án và bị xử phạt tù nhưng vẫn tiếp t c phạm tội. Xét t nh nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo giáo d c bị cáo tr thành người có ch có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống ng n ngừa phạm tội mới; đ ng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.

Về nhân thân, bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử lý về hành vi sử d ng trái phép chất ma túy. Do đó, khi lượng hình Hội đ ng xét xử cũng xem xét để có mức hình phạt phù hợp với nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo n n n hối cải, tài sản chiếm đoạt đã được thu h i trả bị hại thuộc trường hợp “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” nên Hội đ ng xét xử áp d ng các điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có cơ s đúng người đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 đề nghị áp d ng đối với bị cáo là phù hợp tương xứng với t nh chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có c n cứ chấp nhận.

Xét thấy theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do không có thu nhập điều kiện kinh tế còn khó kh n; vì vậy Hội đ ng xét xử không áp d ng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng v án quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả 01 xe mô tô biển số 51L7-2812 cho bị hại đ ng thời bị hại không có ý kiến yêu cầu gì liên quan đến việc tạm giữ xử lý vật chứng nên không đề cập giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự do bị hại không có yêu cầu bị cáo b i thường thiệt hại nên Hội đ ng xét xử không xem xét.

[12 ] Đối với người ph nữ thu mua ve chai do không xác định được lai lịch và không biết tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không có c n cứ để xử lý.

Về án ph hình sự sơ thẩm: C n cứ quy định tại Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- C n cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51, của Bộ luật Hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017).

Xử phạt bị cáo Sử H ng Đ 01 (một) n m 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù t nh từ ngày 10/01/2020.

- C n cứ vào các điều 135 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội.

Buộc bị cáo Sử H ng Đ nộp 200.000 đ ng án ph hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày t nh từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ