- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh T phạm tội "Trộm cắp tài sản" năm 2020 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2020/HS-PT Ngày: 02/6/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Đào
Các thẩm phán:
Bà Trần Thị Thu Hiền
Ông Trần Hồng Hải
- Thư ký phiên toà: Bà ê N Ng c Diệp – Th k T a án nh n d n t nh
Hà T nh
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh: Ông Lê Quang
Phiệt.
Ngày 02 tháng 6 năm 2020, tại Hội tr ờng xét xử Toà án nh n d n t nh Hà T nh mở phiên t a công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ l số 20/2020/HSPT ngày 06/02/2020,
Do ngày 02/01/2020 bị cáo Nguyễn Minh T có đơn kháng cáo đối với bản án HSST số 34/2019/HS-ST ngày 30-12-2019 của T a án nh n d n huyện H, t nh Hà T nh với nội dung xin h ởng án treo.
* Bị cáo kháng cáo:
H và tên: Nguyễn Minh T, sinh ngày: 02/6/1980, hộ khẩu th ờng trú: Xóm 13, xã H, huyện H, t nh Hà T nh; nghề nghiệp: ao động tự do; trình độ văn hóa: 04/12; d n tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh H, sinh năm: 1956 và bà Nguyễn Thị A, sinh năm: 1958; vợ: Lê Thị N, sinh năm: 1985; có 02 con: lớn 15 tuổi, nhỏ 09 tuổi; Tiền án, tiền sự: không; Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi c trú, có mặt;
- Ng ời bào ch a cho bị cáo Nguyễn Minh T: ông Trần Thanh Minh – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp l nhà n ớc t nh Hà T nh, vắng mặt.
* Bị cáo không kháng cáo, vắng mặt: Nguyễn Văn T, sinh năm 1972, hộ khẩu th ờng trú: Xóm 13, xã H, huyện H, t nh Hà T nh.
* Bị hại không kháng cáo, vắng mặt:
Ông Mai Đậu Q, sinh năm: 1948, địa ch : Thôn T, xã P, huyện H, t nh Hà T nh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Bản án hình sự sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Minh T bị Tòa án nhân dân huyện H xét xử về hành vi phạm tội nh sau:
Chiều ngày 22/9/2019, Nguyễn Minh T đến trang trại của mình ở khu vực Xà Kỳ thuộc xóm 13, xã Hà Linh, huyện H để đ a tr u của gia đình về nhà thì phát hiện có 01 con tr u đực, màu đen, khoảng 4 năm tuổi đi theo về chuồng trâu nhà mình. T nảy sinh định trộm con tr u đó đem bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Minh T đến nhà Nguyễn Văn T để nói về việc có tr u đi lạc và bàn tính việc đ a tr u đi bán. Hai bên thống nhất và khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô Sirius, dắt trâu lên xe lôi và cả hai đ a tr u đến nhà anh Tr ờng. Khoảng 8 giờ ngày 23/9/2019, cả hai thống nhất bán tr u cho anh Tr ờng với số tiền 18.300.000 đồng, Nguyễn Minh T lấy số tiền 8.300.000 đồng, Nguyễn Văn T lấy 10.000.000 đồng.
Con tr u đực, màu đen đ ợc xác định là của ông Mai Đậu Q và hiện đã đ ợc giao trả cho chủ sở h u. Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định con trâu mà Nguyễn Minh T và Nguyễn Văn T trộm cắp trị giá 37.100.000 đồng.
Hành vi của Nguyễn Minh T và Nguyễn Văn T đã bị Tòa án nhân dân huyện H xét xử tại bản án số 34/2019/HSST ngày 30-12-2019. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS, áp dụng thêm điểm p khoản 1 Điều 51 B HS đối với Nguyễn Minh T; khoản 2 Điều 47 B HS; điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 B TTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14: tuyên bố Nguyễn Minh T và Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt Nguyễn Minh T 15 tháng tù; Nguyễn Văn T 12 tháng tù nh ng cho h ởng án treo, thử thách 24 tháng. Ngoài ra án còn tuyên về ngh a vụ thi hành án treo, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 02/01/2020 bị cáo Nguyễn Minh T có đơn kháng cáo đối với bản án HSST số 34/2019/HS-ST ngày 30-12-2019 của T a án nh n d n huyện H, t nh Hà T nh với nội dung xin h ởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo kháng cáo gi nguyên nội dung kháng cáo; đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Hà T nh sau khi phân tích nhân thân, hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, gi nguyên mức hình phạt 15 tháng tù, cho bị cáo h ởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đ ợc thẩm tra tại phiên t a phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, kiến của kiểm sát viên, bị cáo và nh ng ng ời tham gia tố tụng khác,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Viện kiểm sát nh n d n huyện H, điều tra viên, kiểm sát viên quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình xét xử, bị cáo không có kiến hoặc khiếu nại gì thêm về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên t a phúc thẩm, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với bản án sơ thẩm, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với thời gian, địa điểm phạm tội. Do đó T a án nhân dân huyện H, t nh Hà T nh xét xử bị cáo về tội "Trộm cắp tài sản" là đúng ng ời, đúng tội, không oan sai.
. Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh T, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Vì hám lợi nên Nguyễn Minh T khi thấy con tr u của nhà khác đi lạc về nhà mình đã nảy sinh định trộm cắp để bán lấy tiền tiêu xài. Sau khi trộm đ ợc tr u, bị cáo đã bàn tính với Nguyễn Văn T đ a đi cất dấu và tiêu thụ. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, x m phạm đến quyền sở h u về tài sản của công d n đ ợc pháp luật bảo vệ, cần phải xử l nghiêm minh tr ớc pháp luật. Bị cáo Nguyễn Minh T không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đ ợc áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi th ờng thiệt hại, phạm tội lần đầu thuộc tr ờng hợp ít nghiêm tr ng, ng ời phạm tội là ng ời khuyết tật nặng quy định tại điểm b, p, i, s khoản 1 Điều 51 B HS và tình tiết ng ời bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo quy định tại 2 Điều 51 B HS, do đó mức hình phạt 15 tháng tù nh phán quyết của T a án cấp sơ thẩm là có căn cứ.
Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ; nh n th n tốt, nơi c trú rõ ràng; hoàn cảnh hiện nay của bị cáo bị bỏng nặng toàn th n do tham gia ch a cháy rừng, đ ợc h ởng chế độ ng ời khuyết tật theo Quyết định số 6445 ngày25/9/2017 của UBND huyện H; sức khỏe, khả năng lao động và tự chăm sóc bản th n của bị cáo bị hạn chế. Do đó, cấp phúc thẩm thấy rằng không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội mà tạo điều kiện để bị cáo đ ợc gia đình, ng ời th n chăm sóc sức khỏe, bảo đảm quyền, lợi ích thiết thực cho ng ời khuyết tật theo quy định của pháp luật Việt Nam cũng là thể hiện tính nh n đạo của pháp luật hình sự Xã hội chủ ngh a. Vì vậy, chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh T, sửa bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt tù là phù hợp và đủ nghiêm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh T, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 34/2019/HSST ngày 30-12-2019 của T a án nh n d n huyện H, t nh Hà T nh về biện pháp chấp hành hình phạt tù.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, p, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 BLHS: xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 15 tháng tù, cho h ởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã Hà Linh, huyện H, t nh Hà T nh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Tr ờng hợp ng ời đ ợc h ởng án treo thay đổi nơi c trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87, Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, ng ời đ ợc h ởng án treo cố ý vi phạm ngh a vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ng ời đ ợc h ởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho h ởng án treo.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí T a án bị cáo Nguyễn Minh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - VKSND t nh Hà T nh; - TAND, VKS, CA, THA h. H; - Sở t pháp Hà T nh; - Ph ng PV 27 CA t nh Hà T nh; - Bị cáo; - L u HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Đào |