vanban.org

Bản án 69/2019/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Kiên Giang Tuyên án 11/04/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/04/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Phan Anh Đ; sửa bản án sơ thẩm.

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54; Điều 56; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Phan Anh Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 06 (Sáu) tháng tù của bản án hìn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Phan Anh Đ; sửa bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2019/HS-PT
Ngày: 11- 4-2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Hiền

Các Thẩm phán: Ông Cao Quốc Chiến

Bà Huỳnh Thị Út Mẫn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tuyết Nhung – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 240/2018/TLPT-HS ngày 24 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Phan Anh Đ, do có kháng cáo của bị cáo Phan Anh Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2018/HS-ST ngày 13/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Phan Anh Đ, sinh năm 1998; tại Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: ấp ĐT, xã VBB, huyện VT, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn Th và bà Huỳnh Thị Tr; Có vợ là Nguyễn Thị N; có con là Phan Thị Ngọc B; Tiền án: chưa; tiền sự: 02 - Ngày 28/7/2017 bị Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Bình Bắc xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000đ về hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác (chưa nộp phạt). - Ngày 02/4/2018 bị Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Bình Bắc xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000đ về hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác (chưa nộp phạt). Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, đến ngày 20/12/2018 bị cáo đi chấp hành hình phạt tù của bán án số 30/2018/HS-ST ngày 13/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang tại trại giam Kênh 7 – Bộ Công an. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sau khi uống rượu cùng nhóm bạn tại nhà Trần Quốc Kh, cư trú ấp ĐT, xã Vĩnh BB, huyện VT, tỉnh Kiên Giang, vào khoảng 23 giờ ngày 10/5/2018 Huỳnh Ngọc Th và Phan Anh Đ ra lấy xe đi về. Lúc này, Th nghe tiếng chửi lớn của Nguyễn Văn Ng (nhà của Ng ở kế bên nhà của Kh) nên Th và Đ qua nói chuyện với Ng thì xảy ra mâu thuẫn với Ng và Nguyễn Văn P (cha của Ng). Sau đó, P cầm cục gạch chọi về hướng Th và Đ nhưng không trúng, Đ cầm 01 cây dao tự chế xông vào chém một cái trúng vào cẳng tay trái của Ng, Ng bỏ chạy vào nhà, Đ tiếp tục đuổi theo nhưng không gặp. Cùng lúc, Th ra xe lấy 01 cây dao tự chế xông vào chém trúng một cái vào bả vai phải của P gây thương tích, P bỏ chạy ra phía sau nhà thì Th tiếp tục đuổi theo nhưng không gặp nên cùng với Đ ra xe đi về. Phước cùng với Ng được đưa đến bệnh viện huyện Vĩnh Thuận để điều trị thương tích.

Tại Bản kết luận giám định pháp y số 301/KL-PY ngày 13/6/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Kiên Giang kết luận tỷ lệ thương tích của Nguyễn Văn Ng như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo sơ cứng cẳng tay trái.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích trên gây nên hiện tại 11%.

3. Vật gây thương tích: Vật sắc.

4. Về thẩm mỹ và chức năng bộ phận cơ thể: Thương tích không gây ảnh hưởng thẩm mỹ và không gây hạn chế chức năng bộ phận cơ thể.

Tại Bản kết luận giám định pháp y số 302/KL-PY ngày 13/6/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Kiên Giang kết luận tỷ lệ thương tích của Nguyễn Văn P như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo sơ cứng vùng bả vai phải; gãy (mẻ) bờ trên ngoài xương bả vai phải.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích trên gây nên hiện tại 20%.

3. Vật gây thương tích: Vật sắc.

4. Về thẩm mỹ và chức năng bộ phận cơ thể: Thương tích không gây ảnh hưởng thẩm mỹ và không gây hạn chế chức năng bộ phận cơ thể.

Vật chứng: Hung khí dùng gây án không thu giữ được.

Tại Bản án sơ thẩm số: 31/2018/HSST ngày 13/11/2018 Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang:

Tuyên bố: Bị cáo Phan Anh Đ phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Phan Anh Đ 02 (Hai) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo vào chấp hành hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Phan Anh Đ bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn Ng số tiền 18.544.470 đồng.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên bị cáo Huỳnh Ngọc Th 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, tuyên về trách nhiệm dân sự, về án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/11/2018, bị cáo Phan Anh Đ có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt với lý do: Mức án quá cao so với hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về tội danh của bị cáo là phù hợp. Về hình phạt, cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định xử phạt bị cáo 02 năm tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên bị cáo kháng cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới, sau khi xử sơ thẩm có bồi thường cho bị hại được 8.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo còn 01 năm 06 tháng tù. Áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Anh Đ; sửa bản án sơ thẩm đã tuyên. Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo:

Xét đơn kháng cáo của bị cáo về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

Về quyết định của bản án sơ thẩm:

Do tưởng Nguyễn Văn Ng chửi mình nên Huỳnh Ngọc Th và Phan Anh Đ xảy ra mâu thuẫn cự cãi với Ng và P (Cha của Ng), Ph cầm cục gạch chọi về phía của Đ và Th nhưng không trúng, Đ cầm dao tự chế xông vào chém một cái trúng vào cẳng tay trái của Ng gây thương tích 11%. Cùng lúc, Th ra xe lấy 01 cây dao tự chế xông vào chém trúng một cái vào bả vai phải của P (Cha của Ng) gây thương tích 20%. Do vậy Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận đã xử phạt bị cáo Phan Anh Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Về yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:

Sau khi xét xử sơ thẩm xong bị cáo Phan Anh Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Hội đồng xét xử thấy rằng tội phạm mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, thể hiện ý thức xem thường tính mạng, sức khỏe người khác. Hành vi của bị cáo không những gây cho bị hại một thương tích nhất định mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Tuy nhiên, xét quá trình điều tra xét xử bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, sau khi bị xét xử đã bồi thường thêm cho bị hại được 8.000.000 đồng, đây là tình tiết giảm nhẹ mới từ đó cấp phúc thẩm cần áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là có cơ sở.

Về quan điểm của Viện kiểm sát: Về hình phạt do có tình tiết mới nên đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là phù hợp HĐXX chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ Luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Phan Anh Đ; sửa bản án sơ thẩm.

2. Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54; Điều 56; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Phan Anh Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 06 (Sáu) tháng tù của bản án hình sự sơ thẩm số 30/2018/HSST ngày 13/11/2018. Bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án của bản án trước là ngày 20/12/2018.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Bị cáo Phan Anh Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 31/2018/HSST ngày 13/11/2018 Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ