- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Anh Q phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:69/2019/HS-ST Ngày 18 tháng 6 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Huynh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Quang Mẫn
Bà Đinh Thị Ngọc Châu
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Hải Đăng là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên tòa:
Ông Ngô Anh Hồng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án Nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm C khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2019/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 405/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Anh Q; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 02/9/1992; Tại: Nghệ An; Hộ khẩu thường trú: Không nơi cư trú nhất định; Chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Không xác định và bà: Không xác định; Hoàn cản gia đình: Không xác định.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt và tạm giam từ ngày 03/12/2018, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người tham gia tố tụng khác:
- Bị hại: Ông Nguyễn Thành C (Vắng mặt)
Địa chỉ: X Ấp 3 Bờ Tây, xã Phước Lộc, huyện Nhà Bè, Tp. Hồ Chí Minh
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Thanh T (Vắng mặt)
Địa chỉ: X Nơ Trang Long, Phường 15, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
- Người có nghĩa vụ, quyền lợi liên quan: Ông Nguyễn Chương C (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 5, xã Gia Lâm, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 10 phút ngày 03/12/2018, Nguyễn Anh Q đi bộ trên đường Hoàng Sa, khi đến khu vực mảng xanh bờ kè kênh Nhiêu Lộc, đối diện quán 6A số 101F Hoàng Sa, phường Đa Kao, Quận 1, Q nhìn thấy xe mô tô biên kiêm soát 49M7-2367 của ông Nguyễn Thành C là bảo vệ mảng xanh khu vực bờ kè đậu sát lề đường, không người trông coi. Q nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên đã đến dùng tay trái cầm tay lái, tay phải cầm ba ga phía sau xe mô tô biển kiểm soát 49M7-2367, sau đó đá chân chống nghiêng lên và dắt bộ đi về hướng cầu Bùi Hữu Nghĩa. Khi Q dắt xe đi được khoảng hơn 01 mét thì ông Nguyễn Thành C và ông Nguyễn Thanh T đang đứng ở phía trong khu vực mảng xanh phát hiện nên ông C đã truy hô. Nghe thấy tiếng tri hô Q đã dừng xe lại, gạt chân chống đứng dựng xe lên và định bỏ đi thì bị ông C và ông T giữ lại. Sau đó, ông C báo cho C an phường Đa Kao, Quận 1 đưa Q về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát Điều tra C an Quận 1 xử lý theo thẩm quyền.
Theo Kết luận định giá tài sản số 371/KL-HĐĐGTS ngày 08/12/2018 của Hội đông định giá tài sản UBND Quận 1 kết luận: chiếc xe máy hiệu Honda Wave RS trị giá 7.000.000 đồng
Trong trình điều tra, Nguyễn Anh Q có biểu hiện bị tâm thần nên Cơ quan CSĐT- CAQ1 đã ra quyết định trưng cầu giám định T thần đối với Q.
Theo kết luận giám định pháp y tâm thần số 1164/KLGĐ ngày 09/4/2019 của Trung Tâm Pháp y Tâm thần khu vực TP.HCM kết luận:
- Về y học: trước, trong và sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị can có tình trạng T thần bình thường.
- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: trước, trong và sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra công an Quận 1, Nguyễn Anh Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự:
- 01 (một) xe mô tô hiệu Honda loại Wave RS, màu xanh – đen, biển kiểm soát 49M7-2367, số máy: C12E-2109553, số khung : 12308Y375956. Qua xác minh do ông Nguyễn Chương C (thường trú: thôn 5, xã Gia Lâm, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng) đứng tên đăng ký. Ông C đã tặng cho chiếc xe trên cho ông Nguyễn Thành C. Cơ quan Cảnh sát Điều tra công an Quận 1 đã trả chiếc xe trên cho bị hại, bị hại không yêu cầu gì thêm.
Thu giữ của bi cáo:
- 01 (một) điện thoại di động Nokia 216, số Imei 1: 354491091159973, imei 2: 354491093659970.
- 01 (một) con dao bằng kim loại, dài 18 cm.
Tại bản cáo trạng số 69/CTr-VKSQ1 ngày 15 tháng 05 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Anh Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà:
- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Lời khai của Q phù hợp với tài liệu, chứng cứ do Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập được.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nêu quan điểm luận tội như sau:
+ Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng.
+ Đề nghị tuyên Nguyễn Anh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 173, các điểm h, i khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Anh Q từ 09 tháng đến 12 tháng tù;
+ Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an Quận 1, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Anh Q thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, của bị hại, người làm chứng; các tài liệu và chứng cứ khác như biên bản bắt người phạm tội quả tang; Bản kết luận định giá tài sản, v.v. đã đủ cơ sở kết luận: vào lúc 10 giờ 10 phút ngày 03/12/2018, tại lề đường đối diện quán 6A số 101F Hoàng Sa, phường Đa Kao, Quận 1, bị cáo Nguyễn Anh Q đã có hành vi trộm cắp chiếc xe máy hiệu Honda Wave RS trị giá 7.000.000 đồng.
Theo Kết luận giám định pháp y T thần số 1164/KLGĐ ngày 09/4/2019 của Trung Tâm Pháp y Tâm thần khu vực TP.HCM kết luận: “Về y học: trước, trong và sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị can có tình trạng Tâm thần bình thường; Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: trước, trong và sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”. Do đó, có cơ sở xác định bị cáo có đủ năng lực nhận thức và năng lực hành vi khi thực hiện hành vi phạm tội.
Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của C dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái nhưng vì động cơ tư lợi cá nhân nên vẫn cố tình thực hiện. Do đó cần có mức án nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe đối với bản thân bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, nhận thấy bị cáo chưa khai rõ về nhân thân, lai lịch của mình nên chưa được xem là thành khẩn khai báo. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản nên không có thiệt hại nên khi lượng hình Hội đồng xét xử áp dụng các điểm h, i khoản 1Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và tự nguyện không yêu cầu bồi thường thêm khoản nào khác nên Hội đồng xét xử không xét.
Về vật chứng vụ án:
- 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda loại Wave RS, màu xanh – đen, biển kiểm soát 49M7-2367 đã thu hồi trả bị hại là anh Nguyễn Thành C;
- Đối với tang vật thu được của Q là 01 (một) điện thoại di động Nokia 216, số Imei 1: 354491091159973, imei 2: 354491093659970 là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo;
- Đối với tang vật của vụ án 01 (một) con dao bằng kim loại, dài 18 cm không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh Q 12 (mười hai) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 12 năm 2018
- Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 ;
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao bằng kim loại, dài 18 cm.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Anh Q 01 (một) điện thoại di động Nokia 216, số Imei 1: 354491091159973 imei 2: 354491093659970, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án
(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 19/19-PNK ngày 27 tháng 12 năm 2018 của C an Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh)
- Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo Nguyễn Anh Q có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Thành C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh; - Cơ quan Thi hành án hình sự có thẩm quyền; - Bị cáo; - Bị hại; - CCTHADS Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh; - Lưu: VP, HS./. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Huynh |