- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Thanh B phạm tội "Cố ý gây thương tích".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2019/HS-ST Ngày 19 tháng 7 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Xuân Minh, Ông Trịnh Văn Điệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Hường - Là Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dần - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2019/TLST-HS, ngày 01 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2019 đối với:
Bị cáo: Hồ Thanh B, sinh năm 1969; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Làm biển; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông Hồ Tư N (đã chết); Con bà Trương Thị D (đã chết); anh chị em ruột: Có 03 người lớn nhất, sinh năm 1956, nhỏ nhất sinh năm 1966; vợ: Trần Như P; con: Có 04 người lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 2003; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị khởi tố ngày 10/6/2019 cho tại ngoại, cấm đi khỏi nới cứ trú đến nay.
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Hồ Thị H, sinh năm 1960 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1956 (vắng mặt).
- Chị Hồ Tường V, sinh năm 2004 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2015, Hồ Thanh B ở ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau, sang nhượng cho bà Hồ Thị H (là chị ruột) 10 công đất, sau đó bà H giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của B, B nhiều lần đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên nhưng H không trả, hai bên xảy ra mâu thuẩn.
Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 11/3/2019, Hồ Thanh B đi nhậu về đến nhà lấy 01 cây dao mũi bầu, cán bằng cây dài 30cm cầm trên tay đi đến chổ bà H đang nằm ngũ trên võng phía trước cửa nhà bà H. B đi lại kêu bà H và nói “Trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại cho tao nếu không tao chém chết mẹ”, bà H nói “Tao không trả mày chém thì chém”. Lúc này B cầm dao trên tay chém từ hướng đầu bà H 03 nhát nhưng trúng vào thân võng và gây thương tích nhẹ trên đầu của bà H, lúc này bà H ngồi dậy, B chém tiếp thì bà H dùng tay trái đở làm đứt 02 vết thương ở cẳng tay trái chảy máu.
Sau khi chém bà H xong, được mọi người can ngăn B cầm dao đi về nhà trên đường đi B ném bỏ cây dao xuống kênh, gia đình trình báo chính quyền địa phương đến lập biên bản. Gia đình đưa bà H đến Bệnh viện đa khoa Hoàng Mỹ điều trị từ ngày 11/3/2019 đến ngày 18/3/2019 xuất viện. Sau đó bà H đi điều trị tại Bệnh viện Thông Nhất Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 19/3/2019, bà H có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Hồ Thanh B nhưng do Công an xã Khánh Hải xác định bà H yêu cầu xử lý hành chính (có sửa chữa chữ sự thành chữ chính) nên lập biên bản vi phạm hành chính.
Ngày 17/4/2019, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Khánh Hải ban hành quyết định số 07/QĐ-XPVPHC đối với Hồ Thanh B về hành vi “Dùng dao cố ý gây thương tích cho người khác”.
Ngày 25/4/2019, bà H có đơn yêu cầu khiếu nại việc xử lý hành chính.
Ngày 08/5/2019, bà H có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Hồ Thanh B.
Ngày 23/5/2019, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Khánh Hải ban hành Quyết định số 53/QĐ-HBXPVPHC đối với Hồ Thanh B.
Qua làm việc B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Trong quá trình điều tra bà H yêu cầu bị cáo bồi thường tổng cộng các khoảng là 88.954.000 đồng gồm: Chi phí điều trị theo toa vé 13.954.000 đồng; tiền thuê xe taxi trở bệnh nhân từ huyện Trần Văn Thời đến Cà Mau và từ Cà Mau đi Sài Gòn là 1.600.000 đồng; tiền ăn uống trong 28 ngày điều trị 10.000.000 đồng; tiền mất thu nhập thực tế 06 tháng x 5.000.000 đồng/ tháng =30.000.000 đồng; tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh 28 ngày x 200.000 đồng/ngày =5.600.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần 20 tháng lương tối thiểu 1.390.000 đồng =27.800.000 đồng.
Trong quá trình điều tra, bị cáo đã khắc phục bồi thường cho bà H 5.800.000 đồng. Đối với số tiền mà bị hại yêu cầu là quá cao nên bị cáo yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét lại.
*/Kết luận giám định pháp y về thương tích số 146/TgT ngày 05/6/2019 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Cà Mau kết luận đối với Hồ Thị H: 01 vết sẹo vùng thái dương đỉnh trái, kích thước 0,4cm x 0,1cm. Tỷ lệ 0,5%; 01 vết sẹo và sạm da 1/3 trên mặt sao cẳng tay trái, kích thước 5cm x 0,3cm. Tỷ lệ 0,5%. Tổng tỷ lệ: 1%
Vật chứng vụ án: 01 cấy dao không có cán dài 37cm x 06cm; 01 cái võng vải màu xám, bị đứt 3 vết.
*/ Tại cáo trạng số: 65/CT-VKS ngày 01/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời truy tố Hồ Thanh B về tội "Cố ý gây thương tích" theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận Cáo trạng của viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng, không oan sai; các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra là do bị cáo tự nguyện khai; không ai ép cung, móm cung gì đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự bị cáo đã khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền 5.800.000 đồng.
Tại phiên tòa bà H yêu cầu bị cáo bồi thường tổng cộng 58.954.000 đồng. Bà xin rút lại phần yêu cầu đối với tiền mất thu nhập thực tế là 30.000.000 đồng. Khi nào có căn cứ bà yêu cầu vụ kiện dân sự khác. Về hình sự xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa ý kiến của Kiểm sát viên giữ nguyên cáo trạng số: 65/CT-VKS ngày 01 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bình từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng; về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584 và Điều 585 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại Hiền số tiền: 13.954.000 đồng. Không chấp nhận các khoản yêu cầu còn lại như: Tiền thuê xe taxi, tiền ăn uống trong 28 ngày trị bệnh, tiền mất thu nhập thực tế, tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh và tiền tổn thất tinh thần do thương tích của bị hại chỉ có 01% và trong vụ án cũng có một phần lỗi của bị hại; Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy: 01 cái võng vải màu xám, bị đứt 3 vết; 01 cấy dao không có cán dài 37cm x 06cm do bị cáo dao nộp.
Bị hại tham gia tranh luận: Không đồng ý số tiền 13.954.000 đồng mà đại diện Viện kiểm sát chấp nhận, bác các khoản còn lại. Bà cho rằng số tiền trên bà yêu cầu là có căn cứ.
Bị cáo không tham gia tranh luận; bị cáo nói lời sau cùng là xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và giảm trách nhiệm bồi thường.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét nhận thấy như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trần Văn Thời, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Kết quả thẩm vấn, tranh luận công khai tại phiên tòa và thảo luận nghị án của HĐXX cho thấy đã có đủ cơ sở để kết luận diễn biến nội dung vụ án như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời mô tả và truy tố. Bị cáo Hồ Thanh B đã thừa nhận dùng dao (hung khí nguy hiểm) gây thương tích cho bị hại Hiền vào trưa ngày 11/3/2019 tại ấp Kinh Mới, xã Khánh Hải, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Theo kết luận giám định của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Cà Mau kết luận tổng tỷ lệ thương tật của bà H là 01%. Như vậy đã có đầy đủ cơ sở quy kết bị cáo Hồ Thanh B về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị cáo thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Mặc dù bị hại cũng có lỗi khi giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị cáo không trả và có hành vi thách thức bị cáo. Sự việc xảy rả giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì lớn. Lẽ ra, hai bên bàn bạc, dàn xếp cho ổn thỏa. Vì giữa bị cáo và bị hại có mối quan hệ chị em ruột với nhau. Khi uống rượu vào bị cáo nãy sinh ý định dùng dao chém bị hại để giải quyết mâu thuẫn. Khi bị hại phản ứng, bị cáo liền đưa dao chém nhiều nhác vào người bị hại để gây thương tích nhưng do có võng trùm phủ qua đầu nên bị cáo chém trúng vào thân võng không gây thương tích được cho bị hại là ngoài ý muốn của bị cáo. Khi bị hại ngồi vậy bị cáo tiếp tục chém 02 nhát trúng vào cánh tay trái gây thương tích cho bị hại 01%.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đã trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và biết rõ dùng dao là vật sắt, bén chém vào người của bị hại sẽ gây thương tích là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của bị hại một cách trái pháp luật mà còn gây mất an ninh trật tự, trị an ở đia phương. Mặc dù tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo. Hồi đồng xét xử thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo có ý định sử dụng hung khi ngay từ đầu để gây thương tích và trong khi thực hiện tội phạm bị cáo thực hiện một cách quyết liệt như phân tích ở trên. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục riêng cho bản thân bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo như: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo biết ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có khắc phục bồi thường cho bị hại, bị hại cũng có một phần lỗi nên xem đây là những tình tiết làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm b, điểm i và điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và để làm căn cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo Điều 54 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Theo hồ sơ thể hiện bà H nhập viện ngày 11/3/2019 đến ngày 18/3/2019 xuất viện, giấy xuất viên có thể hiện bà H có nhiều chứng bệnh Chi phí điều trị tổng cộng 13.954.000 đồng, có toa vé kèm theo là có căn cứ cần được chấp nhận theo đề nghị của Viện kiểm sát. Tiền thuê xe taxi 1.600.000 đồng là thực tế được chấp nhận. Đối với các khoản còn lại 42.446.000 đồng là không có cơ sở. Do đã tính luôn phần được chấp nhận vì thương tích thực tế của bị hại là 01%. Trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi nên theo Hội đồng xét xử chia lỗi 8/2 do đó số tiền được tính bị cáo 80%, bị hại 20% trên tổng số tiền được chấp nhận là 15.554.000 đồng. Buộc bị cáo bồi thường tiền chi phí điều trị, chi phí đi lại, tổng cộng 12.443.200 đồng. Trừ số tiền bị cáo đã khắc phục 5.800.000 đồng, còn lại 6.643.200 đồng.
Về xử lý vật chứng: 01 cây dao không có cán dài 37cm x 06cm (là vật tương đồng, hung khí gây án do bị cáo giao nộp); 01 cái võng vải màu xám, bị đứt 3 vết. Do không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Hồ Thanh B phạm tội "Cố ý gây thương tích".
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b điểm i và điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự,
Xử phạt: Bị cáo Hồ Thanh B 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585 và Điều 590 Bộ luật dân sự; Buộc bị cáo Hồ Thanh B bồi thường tiếp cho bị hại Hồ Thị H 6.643.200 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả thêm khoản lãi tương ứng với số tiền chưa thi hành án với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố tịch thu tiêu hủy: 01 cái võng vải màu xám, bị đứt 3 vết; 01 cây dao không có cán dài 37cm x 06cm.
(Các vật chứng trên, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời đang quản lý) theo biên bản giao nhận ngày 01/7/2019.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Hồ Thanh B phải nộp số tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (chưa nộp). Án phí dân sự sơ thẩm 332.000 đồng (chưa nộp).
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau (1b); - VKSND tỉnh Cà Mau (1b); - VKSND huyện Trần Văn Thời (1b); - CAND huyện Trần Văn Thời (1b); - THADS huyện Trần Văn Thời (1b); - Bị cáo; bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Chí Công |