- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN VĂN T VÀ ĐỒNG PHẠM - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Căn cứ điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các điều 32, 38, 50, 58 của Bộ luật Hình sự đố i vớ i bị cáo Nguyễn Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự đố i vớ i; Điều 323 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2019/HS-ST Ngày 31-10-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Xuân Nghiêm
2. Ông Nguyễ n Quố c Tuấ n
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Chung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 67/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2019 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn T, sinh ngà y 28/8/1993 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nơi đăng ký hộ khẩ u thườ ng trú và chỗ ở: Thôn A, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: chưa có; tiền án: Có 04 tiền án: Năm 2011 bị Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về đ ịa phương từ ngày 19/9/2018; tiền sự: Không có; nhân thân : Chưa bị xử phạ t hà nh chí nh , xử lý kỷ luậ t lầ n nà o ; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/4/2019 đến nay, có mặt.
2. Hoàng Văn H, sinh ngày 16 tháng 02 năm 1999, tại huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nơi đăng ký hộ khẩ u thườ ng trú và chỗ ở : Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Ph và bà Phạm Thị Ng mẹ đẻ, mẹ kế bà Nguyễ n Thị B ; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị xử phạ t hà nh chí nh, xử lý kỷ luậ t lầ n nà o; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/4/2019 đến nay, có mặt.
3. Hoàng Tuấn A(tứ c H), sinh ngày 20 tháng 6 năm 1990, tại huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nơi đăng ký hộ khẩ u thườ ng trú và chỗ ở : Thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn V và bà Nguyễn Thị A; vợ tên Ngô Thị H, sinh năm 1988 (đã ly hôn năm 2016); con có 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị xử phạt hành chính , xử lý kỷ luậ t lầ n nà o ; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2019 đến nay, có mặt.
4. Nguyễn Văn Y, sinh ngày 14 tháng 4 năm 1984, tại huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nơi đăng ký hộ khẩ u thườ ng trú v à chỗ ở: Thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Sử a chữ a xe má y ; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Bùi Thị T; có vợ tên Hoàng Thị T, sinh năm 1986 và có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Năm 2010 bị Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang xử phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, hiệ n đã chấp hành xong toàn bộ hình phạt từ ngày 12/3/2013; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/4/2019 đến ngày 14/6/2019 đượ c thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh, bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Các bị hại:
1. Anh Hoàng Tân T, sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
2. Anh Mạc Văn T, sinh năm 1988. Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
3. Bà Lý Thị S, sinh năm 1975. Địa chỉ: Thôn R, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
4. Ông Phan Văn T, sinh năm 1966. Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, có mặt.
5. Anh Đàm Mạnh Tr, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số *, đường *, khu A, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, vắ ng mặt.
6. Anh Phạm Xuân H, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, vắ ng mặt.
7. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn B, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, vắ ng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án:
1. Anh Vi Văn N, sinh năm 1996. Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, vắ ng mặt.
2. Ông Lăng Văn L, sinh năm 1972. Địa chỉ: Thôn R, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
3. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang, vắ ng mặt.
4. Ông Đỗ Văn D, sinh năm 1975. Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, vắ ng mặt.
5. Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T, do không có việc làm, không có thu nhập, lại sử dụng chất ma tú y nên đã nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô mang bán lấy tiền tiêu xài
. Tháng 3/2019 Nguyễn Văn T rủ Nguyễn Văn T cùng đi trộm cắp, T đồng ý. Nguyễn Văn T chuẩn bị xe mô tô nhãn hiệu PREALMI I làm phương tiện đi trộm cắp và tự chế 01 chiếc vam để phá khóa điện xe mô tô . Cách thức: Cả hai chở nhau đi lòng vòng trên các tuyến đường tìm kiếm xe mô tô để trộm cắp. Trong tháng 3/2019, Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn T đã trộm cắp được 02 chiếc xe mô tô tại địa bàn tỉnh Bắc Giang, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Sáng ngày 17/3/2019, tại thôn B, xã S, thành phố B, Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn T phát hiện có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 98B2-474.97 của chị Nguyễn Thị H đang dựng trong sân nhà, Nguyễn Văn T bảo Nguyễn Văn T đợi ở ngoài đường cảnh giới, Nguyễn Văn T đi vào trong sân dắt chiếc xe Airblade ra ngoài và dùng chiếc vam để mở khóa điện nhưng không khởi động được nên Nguyễn Văn T ngồi lên xe Airblade, còn Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu PREALMI I, dùng chân đẩy vào giá để chân xe Airblade để đẩy đi. Khi đi cách nhà chị H khoảng 300m thì cả hai dừng lại, Nguyễn Văn T mở cốp xe Airblade thấy bên trong có 01 áo giả da và 01 ba lô bên trong có số tiền khoảng 1.000.000đ, T lấy số tiền cho vào túi, vứt chiếc áo và ba lô xuống vệ đường. Sau đó Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T thay nhau điều khiển xe mô tô nhãn hiệu PREALMI I đẩy chiếc xe Airblade đi về.
Vụ thứ hai: Khoảng 0 giờ ngày 21/3/2019, tại đường liên thôn thuộc thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, khi phát hiện có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98B1-185.07 để bên lề đường, Nguyễn Văn T ngồi trên xe đợi cảnh giới, còn Nguyễn Văn T đi bộ đến bên chiếc xe Honda Wave dùng vam mở khóa điện khởi động và điều khiển xe đi về, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu PREALMI I đi theo sau.
Cũng vớ i thủ đoạ n và cá c công cụ , phương tiệ n như trên , Nguyễn Văn T còn rủ Hoàng Văn H đi trộm cắp xe mô tô. Từ đầu tháng 4/2019 đến khi bị bắt quả tang, Nguyễn Văn T, Hoàng Văn H đã cùng nhau thực hiện 05 vụ trộm cắp xe mô tô trên địa bàn huyện H, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất, buổi chiều ngày 03/4/2019, tại thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, Nguyễn Văn T, Hoàng Văn H đã trộ m cắ p đượ c chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 12H1-1051 của anh Hoàng Tân T đang dựng trước cửa nhà. Trên xe có 01 chiế c túi sách bên trong đựn g mộ t số đồ vậ t dù ng sử a chữ a điệ n, nướ c).
Vụ thứ hai, buổi trưa ngày 11/4/2019, tại địa phận thôn R, xã H, huyện H, Nguyễn Văn T, Hoàng Văn H trộ m cắ p đượ c chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu cam đen, biển kiểm soát 12H1-326.87 của anh Mạc Văn Tdựng bên lề đường.
Vụ thứ ba, buổi trưa ngày 14/4/2019, tại thôn L, xã C, huyện H, Nguyễn Văn T, Hoàng Văn H trộ m cắ p đượ c chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream , màu nâu, biển kiểm soát 12H1-043.67 của bà Lý Thị S dựng trong góc quán bán hàng.
Vụ thứ tư, buổi tối ngày 18/4/2019, tại thôn Đ, xã M, huyện H, cả hai đã trộ m cắ p đượ c chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen, biển kiểm soát 12H1-072.27 của anh Phạm Xuân H dựng trước cửa nhà.
Vụ thứ năm, buổi trưa ngày 21/4/2019, tại thôn R, xã H, huyện H, Nguyễn Văn T, Hoàng Văn H đã trộ m cắ p chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen trắng, biển kiểm soát 12H1-136.31 của anh Đàm Mạnh Tr dựng bên lề đường không có người trông giữ. Ngay lúc đó anh Đàm Mạnh Tr phát hiệ n nên đã tri hô, Tổ tuần tra Công an huyện Hữu Lũng đang trên đường đi làm nhiệm vụ tại khu vực này đã truy đuổi đến thị trấn Hữu Lũng thì bắt giữ được Nguyễn Văn T, Hoàng Văn H, thu giữ vật chứng gồm: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 12H1-136.31, số máy HC12E-5363858, số khung HC1216DX364744; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu PREALMI I gắn 02 biển kiểm soát 98B1-185.07 và 98L1-7115, số máy 2007993, số khung 007993; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen; 01 đăng ký xe mô tô xe máy số 00824B1 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bắc Giang cấp ngày 16/3/2004; 01 chùm chìa khóa gồm 04 chìa; tiền Việt Nam 400.000đ; 01 con dao dài 46,5cm, phần cán gỗ dài 17,5cm, lưỡi dao kim loại dài 29cm, bao dao bằng gỗ dài 34,5cm.
Tấ t cả cá c lầ n trộ m cắ p trên , Nguyễ n Văn T đều bảo Nguyễ n Văn H đứ ng ngoài cảnh giới, còn Nguyễ n Văn T là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và điều khiển xe trộ m cắ p đượ c đi về Bắ c Giang , Nguyễ n Văn H điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu PREALMI I đi theo sau.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễ n Văn T, Hoàng Tuấn A khai: Do có quen biết Hoàng Tuấn A(thường gọi là H) vì cùng là người sử dụng chất ma túy nên khi trộm cắp được xe mô tô, Nguyễn Văn T đã nhờ A bán hộ. Sau khi đã tiêu thụ trót lọt được chiếc xe mô tô đầu tiên, mỗi khi trộm cắp được xe mô tô thì Nguyễn Văn T đều mang đến nhà Hoàng Tuấn A nhờ A mang đi bán hộ. Trước khi mang xe đi bán, Nguyễn Văn T thườ ng tháo biển kiểm soát của xe, nhưng cũ ng có xe không tháo biển kiểm soát. Cụ thể :
Lần thứ nhất, ngày 17/3/2019 sau khi trộm cắp được chiếc xe Honda Airblade, biển kiểm soát 98B2-474.97, Nguyễn Văn T tháo biển kiểm soát xe và đem bán cho Đỗ Văn D được 8.000.000đ. Nguyễn Văn T chia cho Hoàng Tuấn A 3.000.000đ, cho Nguyễn Văn T 2.000.000đ, còn lại 3.000.000đ T tiêu xài cá nhân.
Lần thứ hai, ngày 21/3/2019 sau khi trộm cắp được xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98B1-185.07, Hoàng Tuấn A đã đem bán cho Nguyễn Văn L được 3.500.000đ và được T chia cho 500.000đ.
Lần thứ ba, ngày 03/4/2019 sau khi trộm cắp được xe Honda Wave, biển kiểm soát 12H1-1051. Hoàng Tuấn A mang bán cho Nguyễn Văn Y đượ c 3.000.000đ. Nguyễn Văn T chia cho Hoàng Tuấn A 1.000.000đ, H 1.000.000đ còn 1.000.000đ bị cáo T sử dụ ng.
Lần thứ tư, ngày 11/4/2019 sau khi trộm cắp được xe Yamaha Sirius, biển kiểm soát 12H1-326.87. Hoàng Tuấn A đem xe bán cho Nguyễn Văn Y đượ c 4.000.000đ, nhưng Hoàng Tuấn A nói với T là bán được 3.000.000đ và được Nguyễn Văn T chia cho 1.000.000đ, chia H 1.000.000đ, còn 1.000.000đ bị cá o T sử dụ ng.
Lần thứ năm, ngày 14/4/2019 sau khi trộm cắp được xe Honda Dream, biển kiểm soát 12H1-043.67. Hoàng Tuấn A dùng điện thoại của Nguyễn Văn T gọi cho Nguyễn Văn Y để bán xe cho Y với giá 5.000.000đ. Nguyễn Văn Y đến nhà Hoàng Tuấn A lấy xe thì thấy Nguyễn Văn T, Hoàng Văn H đang tháo một số phụ tùng xe, Nguyễn Văn Y nói vớ i Nguyễn Văn T khi nào xong thì gọi để Y quay lại lấy xe. Sau khi tháo, lắp phụ tùng xe xong, Nguyễn Văn T gọi Nguyễn Văn Y đến lấy xe, Nguyễn Văn Y biết rõ chiếc xe không có giấy tờ, không có biển kiểm soát, không có nguồn gốc hợp pháp nhưng vẫn đồng ý mua và trả cho T 4.000.000đ, nhưng Y xin lại 50.000đ gọi là tiền “lộc” nên Y chỉ đưa cho T 3.950.000đ, Nguyễn Văn T chia cho H 1.000.000đ, A 1.500.000đ, còn 1.450.000đ T sử dụ ng.
Lần thứ sáu, ngày 18/4/2019 sau khi trộm cắp được chiếc xe Honda Airblade, biển kiểm soát 12H1-072.27, Nguyễn Văn T gọi điện cho Hoàng Tuấn A để nhờ bán xe nhưng không liên lạc được nên Nguyễn Văn T điều khiển xe đến nhà gặp Nguyễn Văn Y. Nguyễn Văn Y nói không thích xe ga, cần thời gian xác định giá nên Nguyễn Văn T mang xe về nhà Hoàng Tuấn A để. Sau đó Hoàng Tuấn A thỏa thuận mua chiếc xe với T giá 4.000.000đ nhưng mới đưa cho T 3.000.000đ. Số tiền này Nguyễn Văn T chia cho H 1.000.000đ, còn lại T chi dùng hết.
Nguyễn Văn Y khai: Bị cáo làm nghề sửa chữa xe m ô tô, khi biế t A và T bán xe, thấ y xe không có giấ y tờ , không rõ nguồ n gố c, không có biể n kiể m soá t, biế t là tà i sả n phạ m phá p nhưng do ham rẻ nên bị cá o đã mua vớ i mụ c đí ch đem về bá n lạ i kiế m lờ i , Nguyễn Văn Y đã mua vớ i A và T đượ c 03 xe mô tô (gồ m: xe Honda Wave, biển kiểm soát 12H1-1051; xe Yamaha Sirius, biển kiểm soát 12H1-326.87; xe Honda Dream, biển kiểm soát 12H1-043.67). Sau khi mua được và i ngà y thì có mộ t người đàn ông đến nhà tự giới thiệu tên là H chuyên mua xe máy cũ, Nguyễn Văn Y đã bán lại cả 03 chiếc xe mô tô trên cho ngườ i tên H được 11.900.000đ.
Tại bản Kết luận định giá tài sản các ngày 21/4/2019; 25/4/2019; 13/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hữu Lũng kết luận:
Xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 12H1-136.31 có giá 11.000.000đ.
Xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 12H1-1051 tại thời điểm ngày 03/4/2019 có giá 9.000.000đ.
Xe mô tô Yamaha Sirius, biển kiểm soát 12H1-326.87 tại thời điểm ngày 11/4/2019 có giá 15.000.000đ.
Xe mô tô Honda Dream, biển kiểm soát 12H1-043.67 tại thời điểm ngày 14/4/2019 có giá 16.000.000đ.
Xe mô tô Honda Airblade, biển kiểm soát 12H1-072.27 tại thời điểm ngày 18/4/2019 có giá 26.000.000đ.
01 máy sấy tóc có giá 40.000đ; 01 túi xách có giá 250.000đ; 01 khoan điện cầm tay nhãn hiệu Hitachi có giá 1.200.000đ; 03 chiếc kìm có giá 120.000đ; 01 kìm cộng lực có giá 70.000đ; 07 đầu khẩu để mở ốc vít có giá 175.000đ; 03 chiếc cầu chì bằng sứ có giá 30.000đ; 01 dây đai bảo hộ có giá 750.000đ. Tổng là 2.635.000đ (là các tài sản của anh Hoàng Tân T bị chiếm đoạt ngày 03/4/2019).
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 53 ngày 05/8/2019 và số 110 ngày 08/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang kết luận:
Xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 98B1-185.07 trị giá 13.000.000đ.
Xe mô tô Honda Airblade, biển kiểm soát 98B2-474.97 trị giá 25.000.000đ,
01 chiếc ba lô trị giá 50.000đ, 01 chiếc áo khoác giả da trị giá 100.000đ. Tổ ng là 150.000đ (là tài sản của chịNguyễn Thị H bị chiếm đoạt ngày 17/3/2019).
Tổng giá trị tài sản Nguyễn Văn T trộm cắp đượ c là 118.785.000đ; Tổng giá trị tài sản Hoàng Văn H trộ m cắ p đượ c là 79.635.000đ. Tổng giá trị tài sản trộm cắp mà Hoàng Tuấn A tiêu thụ là 82.000.000đ. Tổng giá trị tài sản trộm cắp mà Nguyễn Văn Y tiêu thụ là 40.000.000đ.
Tại bản Cáo trạng số 70/CT-VKSHL-HS ngày 10 tháng 10 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T về tội Trộm cắp tài sản quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015; truy tố Hoàng Văn H về tội Trộm cắp tài sản quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015; truy tố Hoàng Tuấn A và Nguyễn Văn Y về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Văn H, Hoàng Tuấn A, Nguyễn Văn Y đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của của bản thân như đã nêu trên và nhậ n trá ch nhiệ m bồi thường cho các bị hại theo yêu cầu của các bị hại.
Bị hại anh Đàm Mạnh Tr khai: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 12H1-136.31 là do anh mua từ tháng 4/2019 với anh Vi Văn N nhưng không làm thủ tục sang tên do vậ y giấ y đăng ký xe vẫn mang tên anh Vi Văn N. Hiệ n anh đã đượ c nhận lại xe nên không có yêu cầu bồ i thườ ng và không có đề nghị gì.
Bị hại anh Hoàng Tân T khai: Tài sản anh bị mất gồm 01 xe mô tô biển kiểm soát 12H1-1051 và một số vật dụng đựng trong một chiếc túi như máy sấy tóc; khoan điện cầm tay; kìm điệ n; kìm cộng lực; đầu để mở ốc vít; cầu chì bằng sứ; dây đai bảo hộ.., là đồ của anh dùng để đi sửa chữa điện nước để trên xe b ị mấ t ngà y 03/4/2019. Nay anh đề nghị đượ c nhậ n lại những tài sản đã thu giữ được, còn những tài sản không thu giữ được đề nghị các bị cáo bồi thường theo giá của Hội đồng định giá đã kết luận.
Bà Lý Thị S và chồ ng là ông Lăng Văn L khai: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 12H1-043.67 là của vợ chồ ng ông bà , giấ y đăng ký xe đứng tên ông Lăng Văn L. Sáng ngày 14/4/2019, bà Lý Thị S đi làm đã dự ng xe tại quán nhà ông Phan Văn K thì bị lấy trộm, nay chị đề nghị các bị cáo phải bồi thường theo giá của Hội đồng định giá đã kết luận.
Bị hại anh Phạm Xuân H khai: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 98E1-887.67, số máy JA27E1533407, số khung RLHJF2707BX557707 là của anh; ngày 18/4/2019 anh Hùng để xe tại nhà thì bị Nguyễn Văn T, Hoàng Văn H lấy trộm. Hiệ n anh đã đượ c nhận lại xe nên không có yêu cầu bồ i thườ ng và không có đề nghị gì.
Bị hại chị Nguyễn Thị H khai: Tài sản chị bị mất gồm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 98B2-474.97 và 01 chiếc ba lô bên trong có 1.000.000đ,01 chiế c á o khoác giả da. Nay chị yêu cầu các bị cáo phải bồi thường các tài sản trên theo giá của Hội đồng định giá đã kết luận.
Bị hại ông Phan Văn T khai: Ông bị mất chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98B1-185.07, nay ông yêu cầu các bị cáo phải bồi thường theo giá của Hội đồng định giá đã kết luận.
Bị hại anh Mạc Văn T khai: Anh bị mất chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 12H1-326.87, nay anh yêu cầu các bị cáo phải bồi thường giá trị xe theo giá của Hội đồng định giá đã kết luận.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; các bị cáo Hoàng Tuấn A, Nguyễn Văn Y phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đề nghị :
Áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các điều 32, 38, 50, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 04 (bố n) năm đến 04 (bố n) năm 06 (sáu) tháng tù.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các điều 32, 38, 50, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn H từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các điều 32, 38, 50, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Tuấn Atừ 15 (mườ i lăm) tháng đến 18 (mườ i tá m) tháng tù.
Áp dụng khoản 1, 5 Điều 323; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các Điều 32, 36, 50, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Y 12 (mườ i hai) tháng đến 18 (mườ i tá m) tháng cải tạo không giam giữ , trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam là 53 ngày, tương ứng với 159 ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo còn phải chấp hành từ 06 (sáu) tháng 21 ngày đến 12 (mườ i hai) tháng 21 (hai mố t) ngày cải tạo không giam giữ. Xét bị cáo có tài sản chung, có thu nhập ổn định từ cử a hà ng sử a xe, kinh doanh củ a vợ chồ ng do vậ y đề nghị k hấ u trừ thu nhậ p
đố i vớ i bị cá o
từ 800.000đ/tháng đến 1.000.000đ/tháng và phạt bổ sung từ 5.000.000đ đế n 7.000.000đ.
Trách nhiệm dân sự:
Các bị hại Phạm Xuân H và Đà m Mạ nh T r đã nhậ n lạ i tà i sả n , không có yêu cầ u bồ i thườ ng, nên không xem xé t.
Đối với thiệt hại của chị Nguyễn Thị H và anh Phan Văn T đều do bị cáo Nguyễ n Văn T gây ra nên buộ c bị cá o có trá ch nhiệ m bồ i thườ ng toàn bộ cho chị Nguyễn Thị H và anh Phan Văn T theo giá trị tà i sả n hộ i đồ ng đị nh giá đã xác định.
Đối với thiệt hại của anh Hoàng Tân T, của anh Mạc Văn T và của chị Lý Thị S: đề nghị sau khi trừ đi số tiền 21.900.000đ do bị cá o Nguyễ n Văn Y bồ i thườ ng chia đề u cho 3 bị hại, số cò n lạ i buộ c các bị cáo Nguyễ n Văn T, Hoàng Văn H và Hoàng Tuấn A phải có trách nhiệm bồi thường tương ứng với vai trò từ ng bị cá o theo thứ tự bồ i thườ ng là Nguyễ n Văn T , Hoàng Văn H, Hoàng Tuấ n A.
Vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điề u 46 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; Bộ luật Tố tụng hình sự , đề nghị: số tiền 400.000đ đã thu giữ củ a bị cá o Nguyễ n Văn T, trả lại cho bị cáo ; Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu PREALMI I gắn 02 biển kiểm soát, bên ngoài là biể n 99E1-185.07 và bên trong là biển 98L1-7115; 01 đăng ký xe mô tô số 0082461; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu xanh đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màn hình đen trắng và
01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 220 màu đỏ, đen đã qua sử dụng bên trong có lắp sim 1 số: 0966236986, sim 2 số: 0869501406. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng không có giá trị gồm : 01 chùm chìa khóa gồm 04 chiếc chìa khóa bằng kim loại; 01 chiếc móc bằng kim loại màu trắng ; các biển kiểm soát xe mô tô gồm: 22B1-890.11; 12H1-1051; 98B2- 474.97; 12H1- 403.67; 98E1- 88767; 01 ốp bảo vệ phần máy xe mô tô bằng kim loại in chữ Airblade ; 02 giá đỡ hàng bằng kim loại ; 01 con dao bằng kim loại sáng màu dài 46,5 cm thu củ a bị cáo Nguyễn Văn T. Trả cho bị cáo Hoàng Tuấn A 01 ví giả da đã cũ bên trong có một CMND mang tên Hoàng Tuấn A. Trả cho bị hạ i Hoàng Tân T 01 túi xách màu đen bằng vải; 05 cuộn giấy in hóa đơn tiền điện có chữ EVNNPCPC LẠNG SƠN; 03 kìm bằng kim loại có tay cầm bọc bằng nhựa; 03 cầu chì bằng sứ hình chữ nhật màu trắng; 01 tuốc nơ vít bằng kim loại; 05 cờ lê bằng kim loại; 01 bộ dây đai bảo hộ bằng sợi dù màu xanh; 01 máy khoan điện đa năng nhãn hiệu HITACHI màu đen; 05 đôi pin điện màu xanh; 01 mỏ lết bằng kim loại màu trắng.
Các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý
kiến tranh luận vớ i đạ i diệ n Việ n kiể m sá t.
Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho cá c bị cá o.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hữu Lũng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng đã thực hiện là hợp pháp. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại đối với quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Văn H, Hoàng Tuấn A, Nguyễ n Văn Y đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như cáo trạng truy tố . Lời khai của cá c bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai các bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại, lờ i khai củ a ngườ i có quyề n lợ i nghĩ a vụ liên quan, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận đị nh giá và những chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để khẳng định: Vào các ngày 17 và 21 tháng 3/2019, Nguyễn Văn T đã thự c hiệ n 02 vụ trộm cắp xe mô tô tạ i tỉnh Bắc Giang, trộ m cắ p đượ c các tài sản gồ m: 01 xe mô tô biển kiểm soát 98B2-474.97 của chị Nguyễn Thị H, 01 xe mô tô biển kiểm soát 98B1-185.07 của anh Phan Văn T. Trong các ngày 03, 11, 14, 18 và 21 tháng 4/2019, Nguyễn Văn T cùng Hoàng Văn H đã thực hiện 05 vụ trộm cắp xe mô tô trên địa bàn xã N, xã H, xã C, xã M, thuộ c huyện H, tỉnh Lạng Sơn, trộ m cắ p đượ c cá c tà i sả n gồm: 01 xe mô tô biển kiểm soát 12H1-1051 của anh Hoàng Tân T, 01 xe mô tô biển kiểm soát 12H1-326.87 của anh Mạc Văn T, 01 xe mô tô biển kiểm soát 12H1-043.67 của anh Lăng Văn L, 01 xe mô tô biển kiểm soát 12H1-072.27 của anh Phạm Xuân H và ngày 21/4/2019 sau khi vừ a trộ m cắ p đượ c chiế c xe mô tô biển kiểm soát 12H1-136.31 của anh Đàm Mạnh Tr thì bị bắt quả tang. Tổng giá trị tài sản Nguyễn Văn T đã trộm cắp đượ c là 118.785.000đ; tổng giá trị tài sản Hoàng Văn H đã trộm cắp đượ c là 79.635.000đ. Ngày 19/9/2018 bị cáo Nguyễ n Văn T mớ i chấ p hành xong hình phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 50/2015/HSST ngày 21/9/2015 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn trở về đị a phương, chưa đượ c xó a á n tí ch nên lầ n phạ m tộ i nà y của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm . Bị cáo Hoàng Tuấn A biết những chiếc xe mô tô do Nguyễn Văn T nhờ bán đề u là tài sản do phạ m tộ i mà có nhưng trong tháng 3/2019 Hoàng Tuấn A vẫ n giú p Nguyễ n Văn T tiêu thụ 04 chiế c xe mô tô có tổ ng trị giá là 82.000.000đ và sau mỗ i lầ n tiêu thụ đề u đượ c T chia từ 2.000.000đ đế n 3.000.000đ; bị cáo Nguyễn Văn Y biế t rõ nhữ ng chiế c xe do Hoàng Tuấn A và Nguyễn Văn T bán là tài sản do phạ m tộ i mà có nhưng Nguyễ n Văn Y vẫ n mua tổ ng 03 chiếc xe mô tô, sau đó đem bá n cho ngườ i tên H vớ i giá 11.900.000đ nhằ m thu lợ i bấ t hợ p phá p . Tổ ng giá trị củ a 3 chiế c xe mô tô bị cáo Nguyễn Văn Y đã tiêu thụ trị giá là 40.000.000đ. Vớ i hà nh vi cá c bị cáo đã thực hiện nêu trên có đủ căn cứ kết luận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Hữ u Lũ ng , tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy đị nh tạ i điểm c, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy đị nh tạ i điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Hoàng Tuấn A và Nguyễ n Văn Y phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy đị nh tạ i khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đú ng phá p luậ t.
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã thự c hiệ n là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Văn H đã trự c tiế p xâm phạm đến quyề n sở hữ u tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của các bị cáo Hoàng Tuấn A và Nguyễn Văn Y đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đồng thời gián tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn huyệ nH, tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Bắc Giang.
Xét vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo thấy rằng: Trong vụ án này có 02 bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, 02 bị cáo thực hiện hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, tuy nhiên cá c bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn , mỗ i bị cáo có vai trò, tính chất và mức độ thự c hiệ n hành vi phạm tội khác nhau, cụ thể: Bị cáo Nguyễn Văn T có vai trò khởi xướng việc phạm tội, trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tích cực nhất và còn rủ dê lôi kéo b ị cáo khác tham gia thực hiện hành vi , bị cáo Tlà ngườ i có vai trò quyết định đến việc hoàn thành tội phạm, đồ ng thờ i vừ a là người chủ động tìm cách tiêu thụ đượ c tà i sả n trộ m cắ p và chia tiền bán tài sản trộm cắp cho các bị cáo khác, giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đ oạt cao nhất so vớ i cá c bị cá o khá c trong cù ng vụ á n . Bị cáo Hoàng Văn H vớ i vai trò giúp sức, làm nhiệm vụ cảnh giới, thụ động, phụ thuộc vào bị cáo T và được bị cáo T chia tiền sau khi bá n đượ c tà i sả n , giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt thấp hơn bị cáo T. Bị cáo Hoàng Tuấn A tuy không hứa hẹn trước việc giúp tiêu thụ tài sản, biết rõ những chiếc xe bị cáo Thương nhờ bán là do trộm cắp mà có nhưng Hoàng Tuấn A vẫn chứa chấp và giúp Nguyễn Văn T tìm nơi tiêu thụ, bị cáo thực hiệ n hà nh vi khá tích cực và đều được bị cáo T chia tiền sau khi đã tiêu thụ đượ c tà i sản. Bị cáo Nguyễn Văn Y, thông qua bị cá oHoàng Tuấn A biế t Nguyễn Văn T và Hoàng Tuấn A có tài sản do trộm cắp bán với giá rẻ, bị cáo đã mua về mục đích để bán lại cho người khác nhằ m kiếm lời, bị cáo thực hiện hành vi độc lập.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần, nên các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy đị nh tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Nguyễn Văn Y, quá trình điều tra đã nộp lại số tiền 11.900.0000đ do phạm tội mà có và ngày 27/10/2019 bị cáo đã tự nguyệ nnộ p thêm số tiề n 10.000.000đ để bồ i thườ ng choba bị hại mà bị cáo đã tiêu thụ xe và gián tiếp gây thiệ t hạ iđến tài sản của họ, tổ ng số tiề n bị cáo đã giao nộp là 21.900.000đ, điề u đó thể hiệ n sự ăn năn hố i cả i và mong muố n đượ c khắ c phụ c hậ u quả củ a bị cá o ; ngoài ra bị cáo có đơn trình bày xin giảm nhẹ hình phạt do hiệ n bị cáo là lao động chính trong gia đình , lại đang thờ cúng liệt sỹ Nguyễ n Văn T là bác ruột của bị cáo, có xác nhận củ a Ủy ban nhân dân xã T, huyệ n L, tỉnh Bắc Giang, nên bị cáo đượ c hưở ng thêm tì nh tiế tgiảm nhẹ theo quy đị nh tạ i điể m b khoả n1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn T là người có nhân thân xấu, đã 04 lầ n bị Tò a á n xé t xử đề u về tộ i trộ m cắ p tà i sả n ; bị cáo Hoàng Văn H chưa có tiền án, tiền sự, bị rủ dê lôi kéo thự c hiệ n hà nh vi phạ m tộ i ; bị cáo Hoàng Tuấn A chưa có tiền án, tiền sự; nhưng các bị c áo Nguyễn Văn T, Hoàng Văn H và Hoàng Tuấn A đều là đối tượng sử dụng chất ma túy . Bị cáo Nguyễn Văn Y, năm 2010 bị Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang xử phạt 10 tháng tù cho hưởng án treo về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án từ ngày 12/3/2013 đến trướ c khi phạ m tộ i không có vi phạm gì.
Trên cơ sở xem xé t tí nh chấ t , mứ c độ hà nh vi phạ m tộ i, vai trò củ a từ ng bị cá o , xét thấy cầ n cá ch ly c ác bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Văn H và Hoàng Tuấn A ra khỏ i đờ i số ng xã hộ i mộ t thờ i gian để giá o dụ c các bị cáo, đả m bảo tính răn đe phò ng ngừ a chung. Bị cáo Nguyễn Văn Y có nhiề u tì nh tiế t giả m nhẹ quy định t ại khoản 1, khoản 2 Điề u 51 của Bộ luật Hình sự nên cũng cần xem xé t để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không cầ n thiế t cá ch ly bị cá o ra khỏ i xã hội cũng đủ để giáo dục bị cáo mà không gây nguy hiể m cho xã hộ i , không ảnh hưởng đế n trậ t tự , an toà n xã hộ i ở đị a phương.
Về hì nh phạ t bổ sung là phạt tiền: Đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Văn H và Hoàng Tuấn A, xét các bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệ p nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Đối với bị cá o Nguyễ n Văn Y hiệ n làm nghề sử a chữ a xe má y, có cửa hàng kinh doanh, thu nhậ p ổ n đị nh, do vậ y cầ n á p dụ ng hì nh phạ t bổ sung là phạ t tiề n đố i vớ i bị cáo với mức phạt là 5.000.000đ để sung ngân sá ch Nhà nướ c.
Xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và về mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên đượ c chấp nhận.
Về bồi thường thiệt hại: Các bị hại Phạm Xuân H và Đàm Mạnh T r đã nhậ n lạ i tà i sả n , nay không có yêu cầ u bồ i thườ ng , nên Hộ i đồ ng xé t xử không xem xé t. Đối với thiệt hại của chị Nguyễn Thị H tổng là 26.150.000đ và thiệ t hạ i củ a anh Phan Văn T tổ ng là 13.000.000đ đề u do bị cá o Nguyễ n Văn T gây ra nên buộ c bị cá o Nguyễ n Văn T tự có trá ch nhiệ m bồ i thườ ng toà n bộ thiệ t hại cho hai bị hại Nguyễn Thị H và Phan Văn T. Đối với thiệt hại của anh Hoàng Tân T, Mạc Văn T , Lý Thị S do bị cá o Nguyễ n Văn T , Hoàng Văn H trự c tiế p trộ m cắ p do vậ y cá c bị cáo Nguyễ n Văn T, Hoàng Văn H phải có trách nhiệ m bồ i thườ ng cho cá c bị hạ i . Tuy nhiên bị cá o Hoàng Tuấn A là người trực tiế p mang tà i sả n do các bị cáo Nguyễ n Văn T, Hoàng Văn H trộ m cắ p đi bá n và được hưở ng lợ i trự c tiế p từ chính số tiề n bá n tài sản trộ m cắ p nên bị cá o Hoàng Tuấ n A cũng phải cùng liên đới chịu trách nhiệm bồi thường cho các bị hại trên . Bị cáo Nguyễn Văn Ý là ngườ i gián tiếp gây thiệ t hạ i, tuy không phả i chị u trá ch nhiệ m bồ i thườ ng nhưng trong thờ i gian chuẩ n bị xé t xử bị cá o đã tự nguyệ n nộ p số tiề n 10.000.000đ tạ i Chi cụ c Thi hà nh á n dân sự huyệ n Hữ u Lũ ng và bị cáo có ý kiến chia đều số tiền trên để bồi thườ ng cho cá c bị hạ i Hoàng Tân T, Mạc Văn T, Lý Thị S mỗ i bị hạ i là 3.333.000đ, đượ c cá c bị hạ i đồ ng ý . Sau khi trừ đi số tiề n Nguyễ n Văn Ý đã tự nguyệ n nộ p bồ i thườ ng, số tiề n cò n lạ i cầ n buộ c các bị cáo Nguyễ n Văn T, Hoàng Văn H , Hoàng Tuấn A phải có trách nhiệm bồi thườ ng tiế p cho cá c bị hạ i tương ứ ng vớ i vai trò , trách nhiệm của mỗ i bị cáo trong quá trì nh thự c hiệ n hà nh vi phạ m tộ i, Cụ thể:
Đối với thiệt hại của anh Hoàng Tân T về giá trị chiếc xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 12H1-1051 trị giá 9.000.000đ – 3.333.000đ do bị cáo Nguyễ n Văn Y bồ i thườ ng, số tiề n cò n lạ i là 5.667.000đ: buộ c bị cá o Nguyễ n Văn T bồ i thườ ng tiế p 4.000.000đ; bị cáo Hoàng Văn H bồ i thườ ng tiế p 1.000.000đ; bị cáo Hoàng Tuấn A bồ i thườ ng tiế p 667.000đ. Đối với thiệt hại của anh Mạc Văn T về giá trị chiếc xe mô tô Yamaha Sirius, biển kiểm soát 12H1-326.87 trị giá 15.000.000đ - 3.333.000đ do bị cá o Nguyễ n Văn Y bồ i thườ ng, số tiề n cò n lạ i là 11.667.000đ: buộ c bị cá o Nguyễ n Văn T bồ i thườ ng tiếp 6.000.000đ; bị cáo Hoàng Văn H bồ i thườ ng tiế p 2.667.000đ; bị cáo Hoàng Tuấ n A bồ i thườ ng tiế p 3.000.000đ. Đối với thiệt hại của bà Lý Thị S về giá trị chiếc xe mô tô Honda Dream, biển kiểm soát 12H1-043.67 trị giá 16.000.000đ - 3.334.000đ do bị cá o Nguyễ n Văn Y bồ i thườ ng, số tiề n cò n lạ i là 12.667.000đ: buộ c bị cá o Nguyễ n Văn T bồ i thườ ng tiế p 6.000.000đ; bị cáo Hoàng Văn H bồ i thườ ng tiế p 3.000.000đ; bị cáo Hoàng Tuấn A bồ i thườ ng tiế p 3.666.000đ.
Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 12.300.000đồng đã thu giữ , trong đó có 11.900.000đ bị cá o Nguyễ n Văn Y nộ p do phạ m tộ i mà cầ n tị ch thu sung ngân sá ch Nhà nướ c; còn lại 400.000đ thu củ a bị cá o Nguyễ n Văn T không liên quan đế n việ c phạ m tộ i nên trả lại cho bị cá o Nguyễ n Văn T nhưng cầ n tạ m giữ để đảm bảo thi hành án . Đối với chiế c xe mô tô nhãn hiệu PREALMI I gắn 02 biển kiểm soát, biển kiểm soát bên ngoà i 99E1 – 185.07, biển kiểm soát bên trong 99L1 – 7115 + 01 đăng ký xe mô tô số: 0082461 + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh đen + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màn hình đen trắng + 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 220 màu đỏ đen đã qua sử dụng, trong điện thoại có lắp sim 1 số: 0966236986, sim 2 số: 0869501406: đây là phương tiệ n cá c bị cá o sử dụ ng thự c hiệ n hà nh vi phạ m tộ i nên cầ n tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước. Đối với 01 chùm chìa khóa gồm 04 chiếc chìa khóa bằng kim loại + 01 chiếc móc bằng kim loại màu trắng + các biển kiểm soát xe mô tô gồm: 22B1-890.11; 12H1-1051; 98B2- 474.97; 12H1- 403.67; 98E1- 88767 + 01 ốp bảo vệ phần máy xe mô tô bằng kim loại in chữ Airblade + 02 giá đỡ hàng bằng kim loại: là các vật chứng không có giá trị , nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 con dao bằng kim loại sáng màu dài 46,5 cm thu củ a bị cáo Nguyễn Văn T, tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy . Đối với 01 ví giả da màu Nâu đã cũ bên trong có một 01 giấ y chứ ng minh nhân dân mang tên Hoàng Tuấn A, trả lại cho bị cáo Hoàng Tuấn A. Đối với 01 túi xách màu đen bằng vải; 05 cuộn giấy in hóa đơn tiền điện có chữ EVNNPC PC LẠNG SƠN; 03 kìm bằng kim loại có tay cầm bọc bằng nhựa; 03 cầu chì bằng sứ hình chữ nhật màu trắng; 01 tuốc nơ vít bằng kim loại; 05 cờ lê bằng kim loại; 01 bộ dây đai bảo hộ bằng sợi dù màu xanh
; 01 máy khoan điện đa năng nhãn hiệu HITACHI màu đen ; 05 đôi pin điện màu xanh ; 01 mỏ lết bằng kim loại màu trắng là tà i sả n, đồ vậ t của anh Hoàng Tân T nên trả lạ i cho bị hạ i Hoàng Tân T.
Đối với Nguyễn Văn T không thừ a nhậ n đượ c đi cù ng Nguyễ n Văn T thự c hiệ n hà nh vi phạ m tộ i; Nguyễn Văn L, Đỗ Văn D không thừ a nhậ n đã đượ c mua tà i sả n vớ i Nguyễ n Văn T và Hoàng Tuấn A , Nguyễ n Văn Y. Quá trình điề u tra cơ quan điề u tra Công an thành phố Bắc Giang, Công an huyện Lạng Giang đã tách ra, khi nào đủ căn cứ sẽ xem xét, xử lý sau nên Hộ i đồ ng xé t xử không xem xé t.
Đối với người đàn ông tên H là người đã mua lại 03 chiếc xe mô tô với Nguyễn Văn Y, do bị cáo Nguyễn Văn Y không biết rõ họ, tên đệm, tuổi, địa chỉ nên không có cơ sở điều tra làm rõ, Hộ i đồ ng xé t xử không xem xé t.
Đối với việc chị Lý Thị H khai báo ngày 10/3/2019, chị để chiếc xe tại lề đường thuộc thônC, xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn thì bị mất trộm. Quá trình điều tra Nguyễn Văn T khai nhặt được chiếc biển kiểm soát này, không được trộm cắp chiếc xe của chị H, do vậy, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hữu Lũng tách ra điều tra làm rõ trong vụ việc khác , Hộ i đồ ng xé t xử không xem xé t.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự giá
ngạch để sung ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Các bị cáo , bị hại, ngườ i có quyền lợ i nghĩ a vụ liên quan có quyề n kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các điều 32, 38, 50, 58 của Bộ luật Hình sự đố i vớ i bị cáo Nguyễn Văn T.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các Điều 32, 38, 50, 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn H.
Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các Điều 32, 38, 50, 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Tuấn A.
Căn cứ khoản 1, 5 Điều 323; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các Điều 32, 36, 50, 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn Y.
Căn cứ Điề u 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điề u 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các Điều 357; 584; 585; 587; 589 của Bộ luật Dân sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; các bị cáo Hoàng Tuấn A, Nguyễn Văn Y phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
2. Về hình phạt:
Xử phạ t bị cá oNguyễ n Văn T 04 (bố n) năm tù, thờ i hạ n tù tí nh từ ngà y tạ m giữ tạ m giam 21/4/2019.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H 03 (ba) năm tù, thờ i hạ n tù tí nh từ ngà y tạ m giữ tạ m giam 21/4/2019.
Xử phạt bị cáo Hoàng Tuấn A12 (mườ i hai) tháng tù, thờ i hạ n tù tí nh từ ngày tạm giữ tạm giam 22/4/2019.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Y 15 (mườ i lăm) tháng cả i tạ o không giam giữ , trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam là 53 ngày, tương ứng với 159 ngày cải tạo không giam giữ. Thờ i hạ n cả i tạ o không giam giữ bị cáo còn phải chấp hành là 09 (chín) tháng 21 ngày. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Khấ u trừ thu nhậ p 800.000đ (tám trăm ngàn đồng)/tháng và phạt bổ sung 5.000.000đ (năm triệ u đồ ng ) đố i vớ i bị cá o Nguyễ n Văn Y để sung ngân sá ch Nhà nướ c . Giao bị cáo Nguyễn Văn Y cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
3. Về trách nhiệm bồ i thườ ng:
Ghi nhậ n sự tự nguyệ n bồ i thườ ng củ a bị cá o Nguyễ n Văn Y đố i vớ i cá c bị hại anh Hoàng Tân T, Mạc Văn T , Lý Thị S , cụ thể bị cáo Nguy ễn Văn Y tự nguyệ n bồ i thườ ng cho mỗ i bị hạ i Hoàng Tân T, Mạc Văn T, Lý Thị Ssố tiề n là 3.333.000đ (ba triệ u ba trăm ba mươi ba ngà n đồ ng chẵ n ) Số tiề n 10.000.000đ (mườ i triệ u đồ ng) trên bị cá o Nguyễ n Văn Y đã nộ p tạ i Chi cụ c Thi hà nh á n dân sự huyệ n Hữ u Lũ ng , tỉnh Lạng Sơn theo biên lai thu tiề n số AA /2015/0005197 ngày 30/10/2019.
Buộ c bị cá o Nguyễ n Văn T có trách nhiệm bồi thường cho bị hại chị
Nguyễn Thị H tổng số tiề n là 26.150.000đ (hai mươi sá u triệ u mộ t trăm năm mươi ngà n đồ ng ); bồ i thườ ng cho bị hạ i cho anh Phan Văn T tổng số tiề n là 13.000.000đ (mườ i ba triệ u đồ ng ); bồ i thườ ng cho anh Hoà ng Tân T số tiề n 4.000.000đ (bố n triệ u đồ ng); bồ i thườ ng cho anh Mạc Văn T số tiề n 6.000.000đ (sáu triệu đồng ); bồ i thườ ng cho chị Lý Thị S số tiề n 6.000.000đ (sáu triệu đồ ng). Tổ ng cộ ng bị cáo Nguyễ n Văn T phải bồi thường cho các bị hại trên với tổ ng số tiề n là 55.150.000đ (năm mươi lăm triệ u mộ t trăm năm mươi ngà n đồ ng).
Buộ c bị cá o Hoà ng Văn H có trách nhiệm bồi thường cho anh Hoàng Tân T số tiề n 1.000.000đ (mộ t triệ u đồ ng ); bồ i thườ ng cho anh Mạc Văn T số tiề n 2.667.000đ (hai triệ u sá u trăm sá u mươi bả y ngà n đồ ng ); bồ i thườ ng cho bà Lý Thị S số tiề n 3.000.000đ (ba triệ u đồ ng ). Tổ ng cộ ng bị cá o Hoà ng Văn H phải bồ i thườ ng cho cá c bị hạ i trên vớ i tổ ng số tiề n là 6.667.000đ (sáu triệu sáu trăm sáu mươi bẩy ngàn đồng).
Buộ c bị cá o Hoàng Tuấn A có trách nhiệm bồi thường cho anh Hoàng
Tân T số tiề n 667.000đ (sáu trăm sáu mươi bẩy ngàn đồng ); bồ i thườ ng cho anh Mạc Văn T số tiề n 3.000.000đ (ba triệ u đồ ng); bồ i thườ ng cho chị Lý Thị S số tiề n 3.666.000đ (ba triệ u sá u trăm sá u mươi sáu ngàn đồng). Tổ ng cộ ng bị cá o Hoàng Tuấn A phải bồi thường cho các bị hại trên với tổng số tiền là 7.333.000đ (bẩ y triệ u ba trăm ba mươi ba ngàn đồ ng).
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
4. Xử lý vật chứng:
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 11.900.000đ (mườ i mộ t triệ u chín trăm đồn g) trong tổ ng số tiề n 12.300.000đ (mườ i hai triệ u ba trăm ngà n đồ ng) đã thu giữ , còn lại 400.000đ (bố n trăm ngà n đồ ng ) trả lại cho bị cáo Nguyễ n Văn T nhưng cầ n tạ m giữ để đả m bả o thi hà nh á n.
Tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước gồm 01 chiế c xe mô tô nhãn hiệu PREALMI I gắn 02 biển kiểm soát , biển kiểm soát bên ngoà i 99E1 – 185.07, biển kiểm soát bên trong 99L1 – 7115, số máy 2007993, số khung 007993 + 01 đăng ký xe mô tô số: 0082461 + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh đen + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màn hình đen trắng + 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 220 màu đỏ đen đã qua sử dụng, trong điện thoại có lắp sim 1 số: 0966236986, sim 2 số: 0869501406.
Tịch thu tiêu hủy gồ m : 01 chùm chìa khóa gồm 04 chiếc chìa khóa bằng kim loại + 01 chiếc móc bằng kim loại màu trắng + các biển kiểm soát xe mô tô gồm: 22B1-890.11; 12H1-1051; 98B2- 474.97; 12H1- 403.67; 98E1- 88767 + 01 ốp bảo vệ phần máy xe mô tô bằng kim loại in chữ Airblade + 02 giá đỡ hàng bằng kim loại + 01 con dao dài 46,5cm, phần cán gỗ dài 17,5cm, lưỡi dao kim loại dài 29cm, bao dao bằng gỗ dài 34,5cm.
Trả lại cho bị cáo Hoàng Tuấn A01 ví giả da mà u Nâu đã cũ bên trong có một 01 giấ y chứ ng minh nhân dân mang tên Hoàng Tuấn A.
Trả lạ i cho bị hạ i Hoàng Tân T gồ m: 01 túi xách màu đen bằng vải; 05 cuộn giấy in hóa đơn tiền điện có chữ EVNNPC PC LẠNG SƠN; 03 kìm bằng kim loại có tay cầm bọc bằng nhựa; 03 cầu chì bằng sứ hình chữ nhật màu trắng; 01 tuốc nơ vít bằng kim loại; 05 cờ lê bằng kim loại; 01 bộ dây đai bảo hộ bằng sợi dù màu xanh; 01 máy khoan điện đa năng nhãn hiệu HITACHI màu đen; 05 đôi pin điện màu xanh; 01 mỏ lết bằng kim loại màu trắng.
(Các vật ch ứng trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn theo biên bả n giao nhậ n vậ t chứ ng ngà y 16/10/2019 và gửi tại kho bạc Nhà nước huyện Hữu Lũng theo giấy ủy nhiệm chuyể n khoả n, chuyể n tiề n điệ n tử lậ p ngà y 15/10/2019)
5. Về án phí: Buộ c các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Văn H, Hoàng Tuấn A, Nguyễn Văn Y mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và mỗ i bị cá o phả i chị u á n phí dân sư có giá ngạcḥ
, cụ thể như sau: bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu là 2.757.500đ (hai triệ u bẩ y trăm năm mươi bẩ y ngà n năm trăm đồ ng); bị cáo Hoàng Văn H phải chịu 333.350đ (ba trăm ba mươi ba ngà n ba trăm năm mươi đồ ng); bị cáo Hoàng Tuấn A phải chịu 366.700đ (ba trăm sá u mươi sá u ngà n bẩ y trăm đồ ng) để sung Ngân sách Nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắ ng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhậ n đượ c bả n á n xử vắ ng mặ t hoặ c kể từ ngà y bả n á n đượ c niêm yế t.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND H. H, T. Lạng Sơn; - Công an H. H, T. Lạng Sơn; - Chi cục THADS H. H, T. Lạng Sơn; - UBND xaT, H .L, T.̃ Bắ c Giang; - UBND xa Y, H̃ .L, T.Bắ c Giang; - Bị cáo, bị hại, ngườ i liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Thanh |