vanban.org

Bản án 69/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trang Thị Yến B về việc xin ly hôn với anh Trần Quang M. Chị Trang Thị Yến B được ly hôn với anh Trần Quang M

Con chung: Chị Trang Thị Yến B được tiếp tục nuôi con chung tên Trần Trung H, sinh ngày 15/01/2004, anh Trần Quang M không phải cấp dưỡng nuôi con, đối với con chung tên Trần Hoài P, sinh năm 1999 đã trưởng thành; Anh M có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Khi cần thiết … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trang Thị Yến B về việc xin ly hôn với anh Trần Quang M. Chị Trang Thị Yến B được ly hôn với anh Trần Quang M
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 69/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 02 - 5 - 2019
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA – TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Bình An

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trương Thị Kim Tiến

Bà Lương Thị Hồng Thắm

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Như Ý, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Ngày 02 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1321/2018/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2018 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trang Thị Yến B, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh L.

- Bị đơn: Anh Trần Quang M, sinh năm 1975.

Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh L.

(Chị B có mặt, anh M vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và quá trình giải quyết vụ án, chị Trang Thị Yến B trình bày: Chị và anh Trần Quang M có tìm hiểu nhau, sau đó chung sống với nhau vào năm 1998 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện Đ, tỉnh L vào năm 2003. Thời gian đầu chị và anh M có hạnh phúc nhưng từ tháng 10 năm 2009 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do cuộc sống không còn hòa hợp, thường xuyên cải vã nhau, anh M hay ghen tuông vô cớ nên chị ly thân với anh M từ đó cho đến nay.

Quá trình chung sống, chị và anh M có 02 con chung tên Trần Hoài P, sinh năm 1999 (đã trưởng thành) và Trần Trung H, sinh ngày 15/01/2004, không có tài sản chung và cũng không có nợ ai.

Thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, thời gian ly thân đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị xin ly hôn với anh Trần Quang M. Khi ly hôn, chị xin được nuôi con chung tên Trần Trung H và không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con. Tài sản và nợ chung không có nên chị không yêu cầu giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án,Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa có thông báo cho anh M biết về yêu cầu khởi kiện của chị B nhưng anh M không có ý kiến phản hồi, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa đã tiến hành các thủ tục tố tụng tiếp theo theo quy định của pháp luật nhưng anh M cũng không đến Tòa án nên chị B đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ.

Tại phiên tòa, chị B giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh M, xin nuôi con chung tên Trần Trung H, không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

1.1. Chị Trang Thị Yến B xin ly hôn với anh Trần Quang M là thuộc quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình.

1.2. Anh Trần Quang M là bị đơn có địa chỉ tạm trú tại ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh A nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

1.3. Anh Trần Quang M vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh M theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

2.1. Chị Trang Thị Yến B và anh Trần Quang M kết hôn với nhau vào năm 2003 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện Đ, tỉnh L là phù hợp theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

2.2. Chị Trang Thị Yến B cho rằng nguyên nhân chị xin ly hôn với anh Trần Quang M là do vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng vì cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh M không còn hòa hợp, thường xuyên cải vã, anh M hay ghen tuông vô cớ. Đồng thời chị và anh M đã ly thân nhau từ năm 2009 cho đến nay nên tình cảm của chị đối với anh M không còn nữa.

2.3 Đối với anh Trần Quang M vắng mặt tại phiên tòa mà cũng không có ý kiến phản hồi về yêu cầu xin ly hôn của chị B và cũng không đến để Tòa án tiến hành hòa giải đoàn tụ, chứng tỏ rằng anh M không có thiện chí hàn gắn với chị B. Vì vậy chị B xin ly hôn với anh M là có căn cứ nên cho chị B ly hôn với anh M là phù hợp theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

2.4. Về con chung: Xét thấy con chung của chị B và anh M tên Trần Trung H, sinh ngày 15/01/2004 có nguyện vọng sống với chị B khi chị B và anh M ly hôn nhau nên cần tiếp tục giao con tên Trần Trung H cho chị B tiếp tục nuôi là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đối với con chung tên Trần Hoài P, sinh năm 1999 đã trưởng thành. Khi nuôi con, chị B không yêu cầu anh Minh cấp dưỡng nuôi con đồng thời chị B và anh M cũng không có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trang Thị Yến B phải chịu án phí ly hôn sung công quỹ Nhà nước theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227 và khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 9 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trang Thị Yến B về việc xin ly hôn với anh Trần Quang M. Chị Trang Thị Yến B được ly hôn với anh Trần Quang M

2. Con chung: Chị Trang Thị Yến B được tiếp tục nuôi con chung tên Trần Trung H, sinh ngày 15/01/2004, anh Trần Quang M không phải cấp dưỡng nuôi con, đối với con chung tên Trần Hoài P, sinh năm 1999 đã trưởng thành; Anh M có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Khi cần thiết chị B và anh M có quyền xin thay đổi tình trạng và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Tài sản chung: Không có.

4. Nợ chung: Không có.

5. Án phí: Buộc chị Trang Thị Yến B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sung Ngân sách Nhà nước. Số tiền này được chuyển từ tiền tạm ứng án phí chị B đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003810 ngày 19/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa sang án phí để thi hành, chị Băng không phải nộp tiếp.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ