vanban.org

Bản án 69/2019/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

TAND tỉnh An Giang Tuyên án 25/04/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/04/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nh n yêu cầu kháng cáo của Võ Thị S; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 197/2018/DS-ST ngày 13/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện A.

Chấp nh n m t phần yêu cầu của bà Võ Thị S khởi kiện đối v i ông Huỳnh Văn X và bà Châu Thị D : Bu c ông H Văn X và bà Châu Thị D có trách nhiệm liên đ i bồi thường cho Võ Thị S 1.905.800 đồng (m t triệu, ch n trăm lẽ năm ngàn, tám trăm) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Tranh chấp dân sự về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nh n yêu cầu kháng cáo của Võ Thị S; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 197/2018/DS-ST ngày 13/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện A.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2019/DS-PT
Ngày: 25 - 4 - 2019
V/v Tranh chấp dân sự về bồi thường
thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thiện.

Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Hải

Bà Ngô Ngọc Phỉ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Dương Quy Thái - Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 04 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 43/2019/TLPT-DS ngày 13 tháng 02 năm 2019 về việc Tranh chấp dân sự về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2019 /QĐ-PT ngày 01 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị S, sinh năm 1974.

Địa chỉ: Tổ 11, ấp T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang – Có mặt

- Đồng bị đơn:

Ông Huỳnh Văn X, sinh năm 1964;

Bà Châu Thị D, sinh năm 1970.

Cùng địa chỉ: Tổ 21, ấp T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang – Có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Huỳnh Thị C, sinh năm 1968;

Địa chỉ:Tổ 10, ấp S, xã K, huyện A, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền cho bà Huỳnh Thị C: Ông Huỳnh Văn X, sinh năm 1964; địa chỉ: Tổ 21, ấp T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang

NỘI D VỤ ÁN:

Do có mâu thu n t việc tranh chấp quyền sử dụng đất, Khoảng 16 giờ ngày 23/8/2017 tại trư c nhà bà H Thị C thu c ấp S, x K, huyện A, tỉnh An Giang, xảy ra việc đánh nhau giữa bà Võ Thị S, ông H Văn X, bà Châu Thị D và bà H Thị C.

Theo bà S cho rằng trong lúc cự c i thì bà C ôm bà lại để ông X dùng tay đánh nhiều tay vào Vùng đầu, mặt; bà D thì dùng gạch ném gây thương t ch cho bà. Sau khi bị đánh, bà S đến Bệnh viện N tại thành phố Châu Đốc điều trị, ngày 24/8/2017 bà đến Bệnh viện Đa khoa A điều trị và điều trị tại Phòng mạch Bác S D tại L. Ngày 28/8/2017 bà đến Bệnh viện N tiếp tục điều trị. Bà S xác định thương t ch vùng đầu, mặt là do ông X dùng tay đánh; thương t ch vùng tay là do bà D dùng gạch ném, nên yêu cầu ông X, bà C, bà D phải bồi thường tổng thiệt hại 5.000.000 đồng (năm triệu), trong đó tiền thuốc là 2.700.000 đồng (hai triệu, bảy trăm ngàn); tiền xe, mất thu nh p, tổn thất tinh thần là 2.300.000 đồng(hai triệu ba trăm ngàn).

Ông X và bà D thì cho biết: Giữa gia đình ông và bà S có mâu thu n trong việc tranh chấp quyền sử dụng đất của họ t c. Vụ việc đang đư c y ban nhân dân thị trấn L tiến hành giải quyết. Ngày 23/8/2017, sau cu c hòa giải tại thị trấn L thì bà S đến nhà bà C tại ấp S, x K chửi m ru t ông tên Võ Thị L, chửi ông X và cả dòng họ H nhà ông (Bà S là em dâu ông X, bà C là em gái ông X). Trong lúc cự cải, bà S dùng thanh s t đánh bà D (bà D là v ông X), ông X can ngăn nhưng không đư c. Tiếp đó bà S và bà D dùng đá ném nhau nhưng không ai bị thương t ch gì. Ông X và bà D xác định không có đánh bà S nên không đồng ý bồi thường.

Ngày 03/01/2018, bà S rút lại yêu cầu khởi kiện đối v i bà H Thị C.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 197/2018/DS-ST ngày 13 - 11 -2018 của Tòa án nhân dân huyện A đ xử:

Chấp nh n m t phần yêu cầu khởi kiện của bà S:

Bu c ông H Văn X và bà Châu Thị D có trách nhiệm liên đ i bồi thường cho Võ Thị S 1.905.800 M t tri u ch n tr m l n m ngh n tám tr m) đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án ph DSST, quyền kháng cáo, nghĩa vụ ch m thi hành án và hư ng d n thi hành án.

Ngày 26/11/2018 bà Võ Thị S có đơn kháng cáo, n i D yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết chấp nh n toàn b yêu cầu khởi kiện, bu c ông Huỳnh Văn X và bà Châu Thị D phải bồi thường cho bà số tiền là 5.000.000 đồng (năm triệu)

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bà Võ Thị S v n giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và yêu cầu khởi kiện;

Ông Huỳnh Văn X và bà Châu Thị D th a nh n vào ngày 23/8/2017 thì ông, bà v i bà S có xảy ra cự c i d n đến xô sát, nguyên nhân bà S chửi cha m ông X, tiếp đó bà S dùng cây s t nhào lại đánh bà D nên ông X chạy lại xô ra, sau đó bà D và bà S có nhặt đá ném qua lại. Do hai bên cùng đánh nhau, ông X cũng bị bà S đánh trúng tay, nên không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bà S

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa phát biểu:

-Việc tuân theo pháp lu t của Thẩm phán đư c phân công giải quyết vụ án, H i đồng xét xử cũng như Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp lu t của những người tham gia tố tụng kể t khi thụ lý vụ án cho đến trư c thời điểm H i đồng xét xử nghị án thực hiện đúng theo quy định pháp lu t tố tụng dân sự

- Về đề xuất hư ng giải quyết vụ án:

Các đương sự th a nh n có xảy ra cự c i d n đến đánh nhau, h u quả là bà S bị thương phải đi điều trị thương t ch tại bệnh viện; do v y thương t ch của bà S là do ông X và bà D gây ra. Nguyên nhân d n đến việc đánh nhau xuất phát t việc bà S có lời lẽ xúc phạm cha m ông X rồi dùng cây s t chạy lại đánh bà D, như v y xét về lỗi thì hai bên cùng có lỗi đư c chia theo tỷ lệ 7/3, phần bà S có lỗi 3 phần, ông X bà D có lỗi 7 phần nhưng cấp sơ thẩm chấp nh n toàn b yêu cầu của nguyên đơn là chưa phù h p v i mức đ lỗi nhưng bên bị đơn không phản tố cũng như không kháng cáo nên không đặt ra xem xét. Nh n thấy cấp sơ thẩm đ xem xét các khoản thiệt hại thực tế bu c ông X, bà D phải bối thường số tiền 1.905.800 đồng là h p lý. Việc bà S kháng cáo xem xét bu c bị đơn phải bồi thường 5.000.000 đồng(năm triệu) nhưng không cung cấp, bổ sung tài liệu chứng cứ chứng minh, nên không có cơ sở để chấp nh n. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm không đình chỉ phần rút yêu cầu khởi kiện của bà S đối v i bà C là thiếu sót, và yêu cầu bà S phải n p tiền tạm ứng kháng cáo phúc thẩm là không đúng nên cần rút kinh nghiệm đối v i cấp sơ thẩm

T đó, đề nghị H i đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 B lu t tố tụng dân sự: Không chấp nh n kháng cáo của bà Võ Thị S, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện A.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đ đư c xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và nghe lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, H i đồng xét xử nh n định như sau:

. Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bà Võ Thị S n p trong hạn lu t định, có n p tiền tạm ứng án ph phúc thẩm theo quy định pháp lu t nên đư c H i đồng xét xử chấp nh n.

.Về n i D: Bà Võ Thị S yêu cầu ông Huỳnh Văn X và bà Châu Thị D phải bồi thường thiệt hại về khoản chi ph điều trị thương t ch do ông X bà D gây ra ngày 23/8/2017 v i tổng số tiền là 5.000.000 đồng.Ông X và bà D không chấp nh n vì hai bên có xảy ra ẩu đả, đánh nhau qua lại và ch nh ông X cũng bị bà S dùng cây s t đánh trúng tay. Như v y sự việc đánh nhau là có, h u quả bà S có đến bệnh viện Nh t Tân điều trị v i tình trạng đa chấn thương vùng đầu, tay (P). T đó có cơ sở xác định thương t ch của bà S là do ông X và bà D gây ra, nên việc bà S khởi kiện yêu cầu bà D và ông X phải bồi thường thiệt hại dosức khỏe bị xâm phạm là có căn cứ.

.Tuy nhiên, đối v i yêu cầu bồi thường gồm tiền thuốc 2.700.000 đồng, tiền mất thu nh p 2.100.000 đồng, tiền xe 200.000 đồng, xét thấy yêu cầu của bà S có các khoản không h p lệ như tiền chụp city lần 2 không theo chỉ định của bác sỹ, Toa thu c mua cùng m t ngày, khoản tiền mất thu nh p không thực tế… do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đ xem xét chấp nh n m t phần yêu cầu khởi kiện của bà S như quyết định của bản án sơ thẩm là phù h p. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà S không cung cấp bổ sung, tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên không có cơ sở xem xét, do v y cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện A.

Đề nghị của Viện kiểm sát phù h p v i nh n định của H i đồng xét xử, nên có căn cứ chấp nh n.

. Mặt khác, trong đơn khởi kiện ngày 25/10/2017,bà S khởi kiện đối v i ông Huỳnh Văn X, bà Châu Thị D và bà Huỳnh Thị C phải bồi thường thiệt hại và quá trình tố tụng cấp sơ thẩm xác định ông X, bà D và bà C là đồng bị đơn, nhưng trong bản án cấp sơ thẩm nh n định do bà S rút yêu cầu đối v i bà C nên thay đổi tư cách tố tụng của bà C t bị đơn trở thành người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan là không chính xác.

Trong quá trình tố tụng bà S rút yêu cầu khởi kiện đối v i bà C, cấp sơ thẩm không nh n định và quyết định đình chỉ phần rút yêu cầu của bà S đối v i bà C theo quy định tại khoản 2 Điều 244 B lu t Tố tụng dân sự năm 2015 là thiếu sót.

Bà S thu c trường h p đư c miễn n p tạm ứng án ph , nhưng cấp sơ thẩm yêu cầu bà S phải n p tạm ứng án ph dân sự phúc thẩm là không đúng theo quy định tại đểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc h i..

Do các đương sự không có kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị những n i D nêu trên; xét những sai sót của cấp sơ thẩm không làm ảnh hưởng đến n i D vụ án và quyền l i của các đương sự nên chỉ cần nêu để cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm.

.Về án phí phúc thẩm : Lẽ ra bà Võ Thị S phải chịu án ph dân sự phúc thẩm, nhưng bà S thu c trường h p đư c miễn án ph theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc H i, nên bà S không phải n p án ph dân sự phúc thẩm.

.Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 148; khoản 1 Điều 308, Điều 313 B lu t tố tụng dân sự;

Không chấp nh n yêu cầu kháng cáo của Võ Thị S; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 197/2018/DS-ST ngày 13/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện A.

Căn cứ các điều 584, 585, 586, 590 của B lu t dân sự; các điều 147, 273 của B lu t tố tụng dân sự.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 24; khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc H i về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

Phúc xử:

Chấp nh n m t phần yêu cầu của bà Võ Thị S khởi kiện đối v i ông Huỳnh Văn X và bà Châu Thị D :

Bu c ông H Văn X và bà Châu Thị D có trách nhiệm liên đ i bồi thường cho Võ Thị S 1.905.800 đồng (m t triệu, ch n trăm lẽ năm ngàn, tám trăm)

Về án ph dân sự sơ thẩm:

Ông X, bà D liên đ i chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án ph dân sự sơ thẩm. Bà Võ Thị S không phải chịu án ph dân sự sơ thẩm

Về án ph dân sự phúc thẩm: Bà Võ Thị S đư c miễn án ph dân sự phúc thẩn, nên đư c nh n lại số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn),tiền tạm ứng án ph phúc thẩm theo biên lai thu tạm ứng án ph lệ ph Tòa án số 0010866 ngày 03/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A.

Về nghĩa vụ ch m thi hành án: Kể t ngày Bản án có hiệu lực pháp lu t (đối v i các trường h p cơ quan thi hành án có quyền chủ đ ng ra quyết định thi hành án) hoặc kể t ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người đư c thi hành án (đối v i các khoản tiền phải trả cho người đư c thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền l i của số tiền còn phải thi hành án theo mức l i suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 B lu t Dân sự năm 2015.

Trường h p Bản án đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Lu t Thi hành án thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Lu t Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Lu t Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể t ngày tuyên án.

Cỡ chữ