vanban.org

Bản án 69/2019/DS-PT — Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 27/06/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/06/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Không chấp nhận kháng cáo của ông Đào Mạnh H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Thành B. Buộc ông Đào Mạnh H phải có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Vũ Thành B số tiền 215.799.000 đồng (hai trăm mười lăm triệu bẩy trăm chín mươi chín nghìn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng — án dân sự — "Án Vũ Thành B khởi kiện Đào Mạnh H về Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ"
  • Tòa quyết gì? [1]. Không chấp nhận kháng cáo của ông Đào Mạnh H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 288 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2019/DS-PT.
Ngày : 27/06/2019
V/v:“Yêu cầu thực hiện nghĩa
vụ”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Ông Bạch Đăng Thi

Các thẩm phán:

Bà Phạm Thị Minh Hiền

Bà Trần Thị Hà

Thư ký phiên toà: Ông Dương Đình Hưng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Ông Lương Thất Tùng – Kiểm sát viên.

Ngày 27/06/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 59/2019/TLPT- DS ngày 25 tháng 02 năm 2019.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 40A/2018/TLPT- DS ngày 10 tháng 10 năm 2018 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 98/2019/QĐ-PT ngày 25/4/2019, quyết định hoãn phiên tòa số 97 ngày 27/5/2019, giữa:

* Nguyên đơn: Ông Vũ Thành B, sinh năm 1963 (có mặt).

Địa chỉ: Thôn CP, xã DĐ, huyện LG, tỉnh Bắc Giang.

* Bị đơn:

Ông Đào Mạnh H, sinh năm 1977 (có mặt).

Địa chỉ: Số nhà 44B, đường ĐST, phường NQ, thành phố BG.

Hiện đang chấp hành án tại: Đội PN số 22, phân trại 2, Trại giam HT, thị xã CL, tỉnh HD.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Bà Chu Thị H1, sinh năm 1970. Địa chỉ: thôn CP, xã DĐ, huyện LG, tỉnh Bắc Giang.

Bà Chu Thị H1 ủy quyền cho ông Vũ Thành B (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án như sau:

Tại đơn khởi kiện và đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 02/7/2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn ông Vũ Thành B trình bày:

Ông là chủ sở hữu chiếc xe ô tô BKS 98C-002.17 và làm nghề kinh doanh vận tải. Vào thời điểm tháng 3/2017 ông có thuê Đào Mạnh H làm phụ xe. Khi thuê H làm phụ xe, ông và H không làm hợp đồng bằng văn bản mà chỉ thỏa thuận bằng miệng với mức lương là 15.000.000 đồng/tháng. Sau này do vợ chồng H giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang nên ông có xác nhận thu nhập cho H để H nộp cho Tòa án chứng minh điều kiện nuôi con. Ông B biết rõ H có giấy phép lái xe đã hết hạn chưa được cấp lại nhưng vẫn giao xe ô tô cho H điều khiển. Khoảng 16 giờ 50 phút ngày 02/5/2017, tại km 103 + 150 Quốc lộ 1A, thuộc địa phận thôn 10 (thôn V), xã HL, huyện LG, Đào Mạnh H do buồn ngủ, không làm chủ được tay lái và tốc độ đã điều khiển xe ô tô BKS 98C-002.17 đi sang trái theo chiều đi của mình, lấn sang làn đường của xe đi ngược chiều, vi phạm Luật giao thông đường bộ gây tai nạn. Hậu quả xe do Đào Mạnh H điều khiển lao vào xe mô tô BKS 12B1-086.35 do anh Nông Văn H2 điều khiển, ngồi sau xe là chị Nông Thị V, hậu quả làm xe mô tô bị hư hỏng và làm cho anh Nông Văn H2, chị Nông Thị V ngồi trên xe tử vong; sau đó lao vào xe ô tô BKS 98A-005.77 do anh Phạm Xuân P điều khiển gây hư hỏng xe ô tô BKS 98A-005.77 và làm hư hỏng rào chắn an toàn đường bộ. Tổng thiệt hại về tài sản trị giá 65.430.000 đồng.

Tại bản án số 02/2018/HSST ngày 23/01/2018, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xét xử sơ thẩm tuyên phạt Đào Mạnh H 04 năm 06 tháng tù về tội Vi phạm qui định về giao thông đường bộ, tuyên phạt Vũ Thành B 02 năm tù về tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ. Do B có kháng cáo nên Tại bản án số 48/2018/HS-PT ngày 04/5/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm xử phạt Vũ Thành B 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ”. Về trách nhiệm dân sự: Buộc ông Vũ Thành B và bà Chu Thị H1 (vợ ông B) phải bồi thường cho gia đình bị hại đại diện là bà Vi Thị V1và Phùng Thị N tổng số tiền 360.000.000 đồng; bồi thường cho người bị hại anh Phạm Xuân P số tiền 52.480.000 đồng; bồi thường cho Công ty cổ phần quản lý và xây dựng công trình giao thông đường bộ 236 số tiền 5.500.000 đồng; tiền cấp dưỡng cho cháu Nông Văn T (con anh Nông Văn H2) 1.500.000 đồng/tháng kể từ tháng 5/2017 đến khi cháu T đủ 18 tuổi.

Ông B và bà H đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 360.000.000 đồng; bồi thường cho anh Phạm Xuân P số tiền là 52.480.000 đồng và tiền cấp dưỡng cho cháu T là 13 tháng (từ tháng 5/2017 đến tháng 6/2018) với số tiền là 19.500.000 đồng. Tổng cộng: 431.980.000 đồng. Nay ông B xác định lỗi gây lên thiệt hại về tính mạng, vật chất trong vụ tai nạn giao thông này không phải do một mình ông gây lên, lỗi chính là do Đào Mạnh H trực tiếp gây lên. Sau khi tai nạn xảy ra, ông B đã trực tiếp khắc phục hậu quả, bồi thường cho gia đình bị hại. Nên nay ông B làm đơn khởi kiện yêu cầu Đào Mạnh H trả cho ông Bắc ½ số tiền mà ông đã bồi thường cho gia đình bị hại và cho nguyên đơn dân sự. Cụ thể: 431.980.000.000 đồng : 2 = 215.990.000 đồng. Ông B rút yêu cầu Đào Mạnh H có trách nhiệm cùng với ông B cấp dưỡng cho cháu Nông Văn T là con của bị hại số tiền 1.500.000 đồng kể từ tháng 6/2018 đến khi cháu T đủ 18 tuổi, sau này nếu có tranh chấp xảy ra ông sẽ khởi kiện bằng một vụ án khác. Tòa án đã ra quyết định đình chỉ yêu cầu này của ông B.

Bị đơn ông Đào Mạnh H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xử vắng mặt, nên hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông H. Theo bản tự khai ngày 19/7/2018 và biên hản hòa giải ngày 10/8/2018, ông H trình bày:

Ông H thống nhất với lời khai của ông B về việc ông làm phụ xe cho ông B, về việc ông B giao xe cho ông là người không có bằng lái, thống nhất về thời gian, diễn biến quá trình ông gây ra tai nạn, nguyên nhân gây ra tai nạn, hậu quả và thiệt hại xảy ra do tai nạn.

Vào thời điểm tháng 3/2018, do không có việc làm, qua người giới thiệu nên H có đến gặp ông B để xin làm phụ xe. Do bằng lái đã hết hạn nên H có nói với ông B là cho H đi phụ xe đến khi nào có bằng thì lái chính. Nhưng ông B bảo H cứ lái nếu có chuyện gì xảy ra thì anh B lo hết, H không phải bồi thường gì nếu xảy ra tai nạn. Sau đó giữa H và B có làm hợp đồng, trong hợp đồng ông B ký có xác nhận của UBND xã DĐ, huyện LG, tỉnh Bắc Giang, có ghi rõ cam kết trả cho H mức lương là 15.000.000 đồng/tháng và H không phải chịu bồi thường nếu có xảy ra tai nạn.

Ông H không đồng ý với toàn bộ yêu cầu của ông Vũ Thành B với lý do: Trước khi giao xe ông B có nói nếu tai nạn xảy ra thì ông B sẽ lo hết, H không phải chịu trách nhiệm; Hợp đồng phụ xe có ghi nếu xảy ra tai nạn thì Hà không phải bồi thường, khi tai nạn xảy ra H và B đến Công an huyện Lạng Giang để trình bày sự việc thì H mới biết là Bằng lái xe của anh B cũng đã hết hạn và đăng kiển xe ô tô cũng đã hết hạn được 1 năm, H có thắc mắc là sao B không nói cho H biết thì ông B có nói là ông sẽ chịu trách nhiệm hết. Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang cũng không bắt H phải bồi thường mà chỉ bắt vợ chồng ông B bà H1 là chủ xe phải bồi thường.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Chu Thị H1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có giấy ủy quyền cho ông Bắc tham gia tố tụng. Tại bản tự khai ngày 01/8/2018, Bà H1 trình bày:

Bà và ông B chồng bà đã bồi thường cho đại diện gia đình bị hại là bà Vi Thị V1và chị Phùng Thị N tổng số tiền là: 360.000.000 đồng. Bồi thường cho anh Phạm Xuân P số tiền 52.480.000 đồng. Cấp dưỡng cho cháu Nông Văn T con của bị hại số tiền là 19.500.000 đồng. Tổng cộng: 431.980.000 đồng. Nay chồng bà là ông B yêu cầu Đào Mạnh H trả cho ông Bắc ½ số tiền mà ông B và bà đã bồi thường. Cụ thể: 431.980.000.000 đồng : 2 = 215.990.000 đồng. Bà H1 nhất trí với yêu cầu của ông B, đề nghị Tòa án giải quyết theo yêu cầu của ông B.

Với nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 40A/2018/DS-ST ngày 10/10/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã xử:

Căn cứ Điều 26; Điều 35; Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 274, khoản 4 Điều 275, Điều 280, khoản 1 và 2 Điều 288 của Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Thành B.

2. Buộc ông Đào Mạnh H phải có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Vũ Thành B số tiền 215.799.000 đồng (hai trăm mười lăm triệu bẩy trăm chín mươi chín nghìn đồng).

Ngoài ra bản án còn tuyên án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Ngày 14/11/2018, ông Đào Mạnh H là bị đơn kháng cáo và nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Nội dung kháng cáo: Không đồng ý với toàn bộ bản án số 40A/2018/DSST của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Ông Vũ Thành B là nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, ông Đào Mạnh H là bị đơn không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án.

Ông Đào Mạnh H trình bày: giữ nguyên yêu cầu.

Ông Vũ Thành B trình bày: Giữ nguyên yêu cầu.

+ Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang phát biểu:

- Về tố tụng: Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và các đương sự đã chấp hành đầy đủ các trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Án phí: Ông H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang. Hội đồng xét xử nhận định:

. Xét đơn kháng cáo của ông Đào Mạnh H thấy:

Về yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Thành B: Thiệt hại xảy ra làm chết 02 người, làm hư hỏng một số tài sản. Thiệt hại này không phải do mình ông B gây ra mà do cả H gây ra. Bản án hình sự sơ thẩm cũng đã nhận định: Do H buồn ngủ nên đã lái xe gây tai nạn, xác định H có lỗi trực tiếp gây nên thiệt hại. Nên ông B có quyền khởi kiện yêu cầu ông H có nghĩa vụ liên đới cùng với ông B trong việc bồi thường, khắc phục hậu quả xảy ra.

Căn cứ vào Bản án hình sự phúc thẩm tỉnh Bắc Giang và căn cứ vào giấy xác nhận kết quả thi hành án của Chi cục thi hành án huyện Lạng Giang thì ông B đã bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại và cấp dưỡng cho cháu T đến tháng 6/2018. Tổng cộng: 431.980.000 đồng.

Về yêu cầu ông Hà phải có nghĩa vụ trả cho ông B ½ số tiền mà ông B và bà H1 đã bồi thường. Cụ thể: 431.980.000.000 : 2 = 215.990.000 đồng.

Ông H không đồng ý trả cho ông B ½ số tiền mà ông B và bà H1 đã bồi thường. Lý do mà ông H đưa ra là: ông B có nói nếu tai nạn xảy ra thì ông B sẽ lo hết; Hợp đồng phụ xe lưu ở hồ sơ hình sự có ghi nếu xảy ra tai nạn thì H không phải bồi thường, đăng kiểm xe ô tô cũng đã hết hạn được 1 năm. Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang cũng không bắt H phải bồi thường mà chỉ bắt vợ chồng B là chủ xe phải bồi thường.

Tại phiên tòa hôm nay ông B có thừa nhận là ông có thuê H làm phụ xe. Ban đầu là giao kết bằng miệng, sau đó ông B có làm giấy xác nhận hợp đồng trong đó chỉ ghi mức lương và không có cam kết gì khác, chỉ có chữ ký của ông mà không có chữ ký của H để H nộp cho Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang giải quyết ly hôn. Ông B không thừa nhận có cam kết với H là nếu H gây tai nạn thì ông B sẽ đứng ra nhận chịu trách nhiệm hết. Ông B cho rằng tai nạn xảy ra ông là chủ xe nên có trách nhiệm đứng ra bồi thường cho gia đình bị hại rồi sau đó thỏa thuận với H sau. Do không thỏa thuận được với H nên ông làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xét giấy xác nhận hợp đồng ghi ngày 01/02/2017: Ông B đã xác nhận ông có thuê Đào Mạnh H lái xe với mức lương 15.000.000 đồng/tháng, nhưng không có nội dung cam kết H không phải chịu bồi thường nếu có xảy ra tai nạn như lời khai của H. Giấy xác nhận hợp đồng này bản chính lưu trong hồ sơ giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình giữa H và vợ H thụ lý số 61/TLST-HNGĐ ngày 02/3/2017 của Tòa án nhân dân thành phố BG. Sau khi xảy ra tai nạn, trong quá trình điều tra Công an huyện LG đã sao lục tài liệu này để đưa vào hồ sơ vụ án hình sự. Ngoài tài liệu này ra thì ông H cũng không có tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh. Do vậy, việc Đào Mạnh H cho rằng ông B đã cam kết H không phải chịu bồi thường nếu có xảy ra tai nạn là không có căn cứ. Do hai bên không có thỏa thuận về trách nhiệm giữa chủ xe (người giao xe) và người lái khi xảy ra thiệt hại thì tranh chấp sẽ được giải quyết theo các quy định của pháp luật.

Về việc H cho rằng Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang không buộc Hà phải bồi thường mà chỉ buộc vợ chồng ông B bà H1 là chủ xe phải bồi thường. Hội đồng xét xử thấy: Việc ông B giao xe cho H người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nên ông B đã phải chịu trách nhiệm hình sự. Bản thân H có lỗi gây ra tai nạn, Bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm cũng đã nhận định lỗi hoàn toàn do H gây nên do H buồn ngủ (không phải lỗi do kỹ thuật của xe cũng như không phải lỗi của người bị hại). Về trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Do vậy Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xét xử sơ thẩm và Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm buộc chủ sở hữu là ông B và bà H1 phải đứng ra chịu trách nhiệm bồi thường là hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 585 bộ luật dân sự năm 2015: Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời; phù hợp với quy định thực hiện nghĩa vụ liên đới được quy định tại Điều 585 bộ luật dân sự năm 2015: Trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình.

Về mối quan hệ nhân quả, lỗi và nguyên nhân gây lên tai nạn và thiệt hại xảy ra Hội đồng xét xử xác định không phải là do mình ông B gây ra mà do lỗi trực tiếp và lỗi chính là do H gây ra do H ngủ gật khi lái xe. Mặc dù H là người có lỗi trực tiếp gây ra thiệt hại nhưng H không phải chịu trách nhiệm bồi thường với gia đình bị hại và nguyên đơn dân sự nhưng H phải có nghĩa vụ với ông B là người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ với gia đình bị hại và nguyên đơn dân sự. Điều 275 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về căn cứ phát sinh nghĩa vụ: Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật. Hành vi gây thiệt hại của H là hành vi trái pháp luật, vi phạm luật giao thông đường bộ. Việc ông B đã bồi thường thiệt hại sau đó yêu cầu H là người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền là đúng với quy định của pháp luật.

Xét về yếu tố lỗi giữa B và H thì thấy H là người trực tiếp gây nên thiệt hại nên lỗi chính thuộc về H. Tuy nhiên, ông B chỉ yêu cầu trả cho ông B một khoản tiền bằng ½ số tiền ông đã bồi thường (2 người ngang nhau).

Do vậy, việc Tòa án sơ thẩm: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Thành B. Buộc ông Đào Mạnh H phải có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Vũ Thành B số tiền 215.799.000 đồng (hai trăm mười lăm triệu bẩy trăm chín mươi chín nghìn đồng) là có căn cứ. Kháng cáo của ông Đào Mạnh H là không có cơ sở chấp nhận.

. Về án phí: Ông Đào Mạnh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Đào Mạnh H không được chấp nhận kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Ông Vũ Thành B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, trả lại ông B số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1]. Không chấp nhận kháng cáo của ông Đào Mạnh H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ Điều 26; Điều 35; Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 274, khoản 4 Điều 275, Điều 280, khoản 1 và 2 Điều 288 của Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Thành B.

2. Buộc ông Đào Mạnh H phải có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Vũ Thành B số tiền 215.799.000 đồng (hai trăm mười lăm triệu bẩy trăm chín mươi chín nghìn đồng).

[2]. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đào Mạnh H phải chịu 10.799.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả ông Vũ Thành B 5.399.750 đồng án phí ông B đã nộp tại Biên lai số AA/2018/0001031 ngày 03/7/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố BG, tỉnh Bắc Giang.

[3]. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đào Mạnh H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Xác nhận ông Đào Mạnh H đã nộp đủ số tiền 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai số AA/2016/0000155 ngày 02/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ