- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Quản trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2018/HSST Ngày 27 tháng 3 năm 2018 “Nguyễn Văn Q trộm cắp tài sản” |
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T, TỈNH B
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Thế Bình.
+ Các hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Mạnh Hải, ông Đỗ Đức Hùng.
+ Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã T, tỉnh B tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Tôn- Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh mở phiên toà sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 65/2017/HSST ngày 06 tháng 02 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/QĐXXST- HS ngày 28/02/2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Q - Sinh năm 1979.
STQ: Xóm Điếm, xã M, huyện B, tỉnh N.
- Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Tôn
giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam
- Bố: Nguyễn Văn Giáo- Sinh 1951; Mẹ: Đặng Thị Cân- Sinh năm 1949.
- Vợ: Nguyễn Thị Hoa- Sinh năm 1981; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh 2004
- Gia đình có 05 anh, chị em, bị cáo là thứ 3.
- Tiền sự: Ngày 25/10/2017, bị Chủ tịch UBND xã Châu Minh, huyện Hiệp Hòa,
tỉnh Bắc Giang xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Trộm cắp
tài sản”.
- Tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/11/2017 đến nay, hiện đang bị tạm giam
tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
* Người bị hại: Ông Nguyễn Bảo Chung- Sinh năm 1965, Trú tại: Khu phố Nguyễn Giáo, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Q, sinh năm 1979, trú tại: Xóm Điếm, xã M, huyện B, tỉnh N là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy và có 01 tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Khoảng 10 giờ ngày 30/11/2017, Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HUANGHE, mầu nâu, biển kiểm soát 20H1- 4793 đi từ xóm Điếm, xã M, huyện B, tỉnh N xuống thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh với mục đích tìm việc làm. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày khi đi đến khu phố Nguyễn Giáo, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, Q nhìn thấy bên trái đường có một ngõ nhỏ, tại đây có để 02 chiếc chậu kim loại bằng tôn lá dày 1mm (01 chiếc có đường kính đáy 1,1m, cao 0,36m; một chiếc có đường kính đáy 1m, cao 0,3m) không có người trông, giữ, Q đã này sinh ý định trộm cắp để đem bán lấy tiền mua ma túy sử dụng, Q điều khiển xe đi vào trong ngõ và dừng lại. Sau khi quan sát không có người, Q dựng xe và lại gần 02 chiếc chậu dùng hai tay bê 02 chiếc chậu đặt lên yên xe mô tô thì bị ông Phan Thanh Tâm- Sinh năm 1970, trú tại khu phố Nguyễn Giáo, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh phát hiện và cùng mọi người bắt giữ. Sau khi bắt giữ được Q, quần chúng nhân dân đã báo cơ quan công an xuống lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữa vật chứng gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu HUANGHE, mầu nâu, biển kiểm soát 20H1- 4793 và 02 chiếc chậu bằng kim loại.
Ngày 01/12/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Từ Sơn ra Quyết định trưng cầu định giá tài sản số: 37, trưng cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Từ Sơn định giá 02 chiếc chậu do Q chiếm đoạt.
Ngày 27/12/2017, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Từ Sơn có Kết luận định giá số: 103/KL- HĐĐG, kết luận: Giá trị 02 chiếc chậu có tổng giá trị là 900.000đ
Quá trình điều tra xác định 02 chiếc chậu là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Bảo Chung- Sinh năm 1965, trú tại: Khu phố Nguyễn Giáo, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Chung 02 chiếc chậu, ông Chung đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HUANGHE, màu nâu, biển kiểm soát 20H1- 4793, được Q sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản, qua điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bị cáo.
Với nội dung trên, tại Bản cáo trạng số: 08/CTr- VKS ngày 05/02/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh truy tố Nguyễn Văn Q tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.
Tại phiên tòa Nguyễn Văn Q khai nhận: Bản thân là đối tượng sử dụng ma túy, ngày 25 tháng 10 năm 2017 bị Chủ tịch UBND xã Châu Minh, Hiệp Hòa, Bắc Giang xử phạt tiền về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Sáng ngày 30/11/2017 bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HUANGHE, biển kiểm soát 20H1- 4793, là xe của bị cáo đi từ nhà ở Xóm Điếm, xã Nga Mỹ, huyện B, tỉnh N xuống thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh với mục đích tìm việc làm, khi đi qua khu phố Nguyễn Giáo, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn quan sát thấy tại một ngõ nhỏ có để 02 chiếc chậu bằng kim loại không có người Q lý, trông giữ bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt để đem bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Quan sát xung quanh không có người bị cáo đã điều khiển xe lại gần vị trí để 02 chiếc chậu, dừng xe và xuống xe, sau đó dùng hai tay bê hai chiếc chậu đặt lên yên xe với mục đích chở đi tiêu thụ thì bị quần chúng nhân dân phát hiện và giao cho cơ quan công an giải quyết. Bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Từ Sơn truy tố bị cáo tội “Trộm cắp tài sản” là đúng tội, đúng người, đúng pháp luật.
Cũng tại phiên tòa, sau khi phân tích nhân thân, giá trị tài sản do bị cáo lén lút chiếm đoạt cũng như các tình tiết liên quan đến trách nhiệm hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS 2015, xử phạt bị cáo từ 07 đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/11/2017. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS 2015, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS 2015: Tịch thu sung quỹ Nhà nước chiếc xe mô tô nhãn hiệu HUANGHE, màu nâu, biển kiểm soát 20H1- 4793 và 01 đăng ký xe mô tô mang tên Dương Văn Ký do Công an tỉnh N cấp ngày 03/4/2002.
- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
Trong phần tranh luận bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Khi được nói lời sau cùng bị cáo không có ý kiến đề nghị gì.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản phạm tội quả tang, ý kiến trình bày của người bị hại, lời khai của những người làm chứng, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra, đủ căn cứ xác định: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 30/11/2017, tại khu phố Nguyễn Giáo, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn thấy có 02 chiếc chậu bằng kim loại có tổng giá trị 900.000đ là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Bảo chung không có người Q lý, trông giữ, Nguyễn Văn Q đã có hành vi lén lút chiếm đoạt với mục đích đem bán lấy tiền để sử dụng ma túy nhằm thỏa mãn nhu cầu bản thân. Xét giá trị tài sản do bị cáo lén lút chiếm đoạt không lớn, có tổng giá trị 900.000đ (dưới 2 triệu đồng). Song xét nhân thân của bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy, ngày 25/10/2017 bị Chủ tịch UBND xã Châu Minh, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính thì tính đến thời điểm bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt bị cáo chưa được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của BLHS. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh truy tố và đề nghị Tòa án đưa bị cáo ra xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 BLHS 2015 là hoàn toàn có căn cứ, đúng tội, đúng người, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân mà trực tiếp là tài sản của ông Nguyễn Bảo Chung, gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy với bị cáo cần phải có một một mức hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo thành một con người có ích cho xã hội.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015. Mặt khác xét giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt không lớn, đã được thu hồi trả lại cho người bị hại nên thấy chỉ cần phạt bị cáo bằng mức khởi điểm theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Ngoài hình phạt chính là hình phạt tù, với bị cáo lẽ ra cần áp dụng thêm hình phạt bổ sung là hình phạt tiền như quy định tại khoản 5 Điều 173 của BLHS. Song xét bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có tài sản, việc làm và thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
+ Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định, chiếc xe mô tô nhãn hiệu HUANGHE, mầu nâu, biển kiểm soát: 20H1- 4793 và đăng ký xe mô tô mang tên Dương Văn Ký do Công an tỉnh N cấp ngày 03/4/2002 là tài sản của bị cáo có nguồn gốc do mua bán hợp pháp mà có, song bị cáo lại sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần phải tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTDS 2015 và Điều 47 BLHS 2015.
+ Về Trách nhiệm dân sự: Tài sản do bị cáo chiếm đoạt là 02 chiếc chậu kim loại (01 chiếc có đường kính đáy 1,1m, chiều cao 0,36m; 01 chiếc có đường kính đáy 1m, chiều cao 0,3m) là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Bảo Chung. Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho ông Chung, bản thân ông Chung không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
+ Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập ông Nguyễn Bảo Chung tham gia tố tụng với tư cách là người bị hại, song ông Chung có đề nghị xin vắng mặt tại phiên tòa. Xét quá trình điều tra ông Chung đã có lời khai rõ ràng, tài sản do bị cáo chiếm đoạt ông đã nhận lại và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự, xét việc vắng mặt của ông Chung không ảnh hưởng đến việc làm rõ sự thật khách quan của vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ Điều 7 BLHS 2015; Công văn số 04/2018/TANDTC- PC ngày 09/01/2018 của Tòa án nhân dân tối cao về việc áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 41 của Quốc hội.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173 BLHS; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 47 BLHS 2015; điểm a khoản 2 Điều 106, 135, 136, 292, 326, 327, 329, 331, 332, 333 BLTTHS 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, Q lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Xử phạt: Nguyễn Văn Q 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, tạm giam 30/11/2017. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước chiếc xe mô tô nhãn hiệu HUANGHE, màu nâu, biển kiểm soát 20H1- 4793 và 01 đăng ký xe mô tô mang tên Dương Văn Ký do Công an tỉnh N cấp ngày 03/4/2002.
- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được kết quả bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh - VKSND thị xã Từ Sơn; - THADS thị xã Từ Sơn; - Công an thị xã Từ Sơn; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Đỗ Thế Bình |