vanban.org

Bản án 69/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 15/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Nguyễn Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Ngô Nguyễn Thanh H 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để chấp hành án. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Giao trả cho anh H 1 cái áo khoác, tịch thu tiêu hủy 1 cái thẻ giữ xe (hiện Chi cục thi hành án dân sự huyệ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Nguyễn Thanh H - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ngô Nguyễn Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG ĐIỀN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Bản án số: 69/2018/HS-ST.
Ngày 15 - 8 - 2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Trí Thức.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thủy.

2. Ông Nguyễn Bá Lộc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Phan Phúc Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 15/8/2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2018/TLST-HS ngày 13/7/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2018/HSST-QĐ ngày 01 tháng 8 năm 2018, đối với:

Bị cáo: Ngô Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1997, tại: Bà Rịa-Vũng Tàu; Nơi đăng ký HKTT: Khu phố H, thị trấn Long Đ, huyện L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: lớp 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Ngô Văn H, Mẹ: Nguyễn Thị Mỹ H (đã chết); Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại (có mặt).

Bị hại: Anh Trần Minh H, sinh năm 1999. Địa chỉ: 39S khu phố Long Sơn, thị trấn Long Đ, huyện L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (vắng mặt)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Ông Trần Xuân T, sinh năm 1973. Địa chỉ: Ấp Phước Lợi, xã Phước Tỉnh, huyện L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (vắng mặt)

- Ông Ngô Văn H, sinh năm 1969. Địa chỉ: Khu phố Long H, thị trấn Long Đ, huyện L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ ngày 28/02/2018, Ngô Nguyễn Thanh H điều khiển xe mô tô biển số 72K1-338.64 đi từ nhà đến tiệm Internet “Thái T” thuộc khu phố Long H, thị trấn Long Đ, huyện L do anh Nguyễn Quốc T làm chủ để chơi game. Tại đây, H phát hiện 01 cái áo khoác màu đen để trên ghế nơi H định ngồi nhưng không thấy chủ sở hữu (đây là cái áo khoác của anh Trần Minh H cũng đang ngồi chơi game trong tiệm). H liền lấy cái áo khoác trên mang vào nhà vệ sinh của tiệm Internet “Thái T” kiểm tra phát hiện trong túi áo khoác có 01 thẻ giữ xe số 28 của tiệm Internet “Thái T” và 01 chìa khóa xe mô tô. H lấy thẻ xe và chìa khóa xe bỏ vào túi quần của mình rồi vứt áo khoác ra ngoài cửa thông gió của nhà vệ sinh. Sau đó, H tiếp tục đi vào ngồi để chơi game. Lúc này, H nhắn tin trên mạng xã hội Facebook cho Nguyễn Văn Ngọc T biết sự việc và hẹn gặp nhau tại nhà của H thuộc khu phố Long H, thị trấn Long Đ, huyện L để bàn việc lấy trộm chiếc xe mô tô mà H đang có thẻ xe và chìa khóa xe, T đồng ý. Khoảng 20 phút sau, T chạy xe đến nhà H và gọi điện thoại cho H chạy về. Khi về đến nhà, H đưa chìa khóa và thẻ xe cho T rồi điều khiển xe chở T quay lại tiệm Internet “Thái T”. Cả hai vào ngồi chơi game được khoảng 15 phút, T ra về trước. Khi xuống bãi giữ xe, T đưa thẻ xe số 28 cho nhân viên bảo vệ của tiệm và lấy chiếc xe mô tô biển số 72K1-455.20 của anh H rồi chạy về nhà của T tại khu phố Hải L, thị trấn Long H, huyện L, còn H sau đó cũng ra lấy xe đi về và chạy xuống nhà T gặp T. Trần Minh H sau khi chơi game ra về phát hiện bị mất xe đã đến trình báo cơ quan công an. Qua làm việc, Ngô Nguyễn Thanh H và Nguyễn Văn Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.

Vật chứng vụ án thu giữ và xử lý:

- 01 xe mô tô biển số 72K1-455.20, đã trao trả lại cho ông Trần Xuân T (cha của Trần Minh H) là chủ sở hữu.

- 01 xe mô tô biển số 72K1-338.64 đã trao trả lại cho ông Ngô Văn H (cha của bị cáo H) là chủ sở hữu.

- 01 thẻ giữ xe số 28, có ghi dòng chữ “Net Thái T”, màu vàng; 01 áo khoác màu đen. Hiện đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện L quản lý, chờ xử lý.

Tại Biên bản định giá tài sản và Bản kết luận định giá tài sản số 21a/KL.HĐĐG ngày 20/3/2018 của Hội đồng định giá tài sản huyện L kết luận: Một chiếc áo khoác loại vải dù, màu đen, đã qua sử dụng trị giá 150.000đ.

Tại Biên bản định giá tài sản và Bản kết luận định giá tài sản số 21/KL.HĐĐG ngày 20/3/2018 của Hội đồng định giá tài sản huyện L kết luận: Một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, BKS: 72K1-455.20, đã qua sử dụng, trị giá 21.150.000đ.

Về trách nhiệm dân sự: Anh H và ông Trung không có yêu cầu bồi thường gì.

Bản cáo trạng số 61/CT-VKSLĐ ngày 11/7/2018 truy tố bị cáo Ngô Nguyễn Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự .

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không tranh luận và xin được giảm nhẹ hình phạt;

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 12 đến 14 tháng tù. Về vật chứng, căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị giao trả cho bị hại 01 cái áo khoác và tịch thu tiêu hủy 1 thẻ giữ xe.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Không tranh luận và không có yêu cầu gì trong vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có cơ sở xác định: Vào khoảng 13 giờ ngày 28/02/2018, tại tiệm Internet “Thái T” thuộc khu phố Long H, thị trấn Long Đ, huyện L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, bị cáo Ngô Nguyễn Thanh H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 cái áo khoác màu đen, trị giá 150.000đ và sau đó cũng tại tiệm Intenrt “Thái T” H đã cùng với Nguyễn Văn Ngọc T thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô biển số 72K1-455.20, trị giá 21.150.000đ của anh Trần Minh H. Tổng giá trị tài sản mà H đã chiếm đoạt là 21.300.000đ. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Ngô Nguyễn Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, bị cáo là người chủ động và rủ T lén lút chiếm đoạt tài sản nên phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Do đó cần phải xử nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên căn cứ điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Giao trả cho anh Hiếu 1 cái áo khoác màu đen; tịch thu tiêu hủy 1 cái thẻ giữ xe.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên không xét đến.

Đối với Nguyễn Văn Ngọc T đã bỏ trốn, Công an huyện L đã tách vụ án xử lý sau.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo về phần tội danh, mức hình phạt và xử lý vật chứng là có căn cứ phù hợp với các tình tiết của vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Ngô Nguyễn Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Ngô Nguyễn Thanh H 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để chấp hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Giao trả cho anh H 1 cái áo khoác, tịch thu tiêu hủy 1 cái thẻ giữ xe (hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện L đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 64/BB-THA ngày 13/7/2018).

3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên không xét đến.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Ngô Nguyễn Thanh H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. THÀNH VIÊN HĐXX

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ