- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Tuấn phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 57 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2018/HS-ST Ngày: 30/10/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHÍ LINH - TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quyết
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Xuân Hợp và bà Trần Thị Kim Chuyên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thái Long - Thƣ ký Toà án nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Như Sáng - Kiểm sát viên.
Ngày 30/10/2018, tại trụ sở Nhà văn hóa KDC Đồng Chóc, phƣờng Hoàng Tân, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng, xét xử sơ thẩm, lƣu động, công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2018/TLST- HS ngày 05 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 66/2018/QĐXXST-HS ngày 16/10/2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T; sinh năm 1986; trú tại: Thôn M, phƣờng H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Q (đã chết); con bà: Vƣơng Thị V; tiền án: Có 02 tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 58/2010/HS-ST ngày 04/11/2010, Tòa án nhân dân huyện Đông Triều (nay là thị xã Đông Triều), tỉnh Quảng Ninh xử phạt T 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, T chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/4/2011; Tại bản án hình sự sơ thẩm số 96/2013/HS-ST ngày 28/10/2013, Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xử phạt T 66 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, T chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/12/2017; tiền sự: Không; bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dƣơng từ ngày 18/7/2018 đến nay-Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
1. Bà Nguyễn Thị P; sinh năm 1964; trú tại: KDC B, phƣờng H, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng.
2. Anh Lê Thanh Y- Sinh năm 1981
3. Chị Lê Thị Đ- Sinh năm 1986
Cùng trú tại: KDC Đ, phƣờng H, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng.
* Người làm chứng:
1. Chị Nguyễn Thị H- Sinh năm 1983
2. Anh Đào Đại T- Sinh năm 1976
3. Ông Nguyễn Văn M- Sinh năm 1967
Cùng trú tại: KDC Đ, phƣờng H, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng.
Bị hại và ngƣời làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Chiều ngày 14/7/2018, Nguyễn Văn T nảy sinh ý định đi trộm cắp xe mô tô nên cầm theo 01 vam phá khóa bằng kim loại dài 12,5cm, gồm phần chữ “T” gắn thanh ngang dài 07cm, phần đầu vam có dạng hình lục giác, có một đầu mỏng dẹt, nhọn để trong túi quần bò phía sau bên phải, đi xe buýt từ nhà ở của mình tại phƣờng H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh đến địa bàn thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng. Khi đi đến khu vực phƣờng H, thị xã C, T xuống xe và đi bộ vào khu dân cƣ Đ, phƣờng H mục đích nếu phát hiện có xe mô tô để sơ hở thì trộm cắp. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, T đi đến trƣớc cổng nhà ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1957 ở KDC Đ, phƣờng H là nơi gửi xe của khách viếng đám tang bà Cao Thị N (là mẹ ông H) ở gần nhà ông H. T thấy cổng đang mở, trong sân có dựng một số xe mô tô. T đi vào trong sân thì gặp chị Nguyễn Thị H là con gái ông H đang dọn dẹp việc nhà. T xin phép đi vệ sinh tại vƣờn phía sau nhà sau đó quay lại sân. T quan sát xung quanh không có ai nên nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, biển số 34P1-0917 của vợ chồng anh Lê Thanh Y, sinh năm 1981 và chị Lê Thị Đ sinh năm 1986, trú tại KDC Đ, phƣờng H đang dựng song song với tƣờng, đầu xe quay vào phía trong, đuôi xe quay ra cổng. T liền ngồi lên yên xe, dùng tay phải lấy vam phá khóa trong túi quần ra, cắm đầu nhọn vam vào vào ổ khóa điện và vặn theo chiều kim đồng hồ. Thấy ổ khóa xoay khỏi vị trí ban đầu nhƣng khóa điện không sáng, T đề xe nhƣng xe không nổ máy. T tiếp tục nảy sinh ý định lấy chiếc xe thứ hai là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển số 34B2- 027.09 của bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1964, trú tại: KDC B, phƣờng H, thị xã C (đăng ký xe mang tên anh Nguyễn Xuân T là con trai bà P, anh T đã cho bà P chiếc xe này) đang dựng ở sân cách chiếc xe Honda Wave S khoảng 02m. T đi đến vị trí chiếc xe này, tay phải cầm vam phá khóa cắm đầu nhọn của vam vào ổ khóa và vặn vam theo chiều kim đồng hồ. Thấy ổ khóa xoay khỏi vị trí ban đầu nhƣng đèn báo điện không sáng. T đề xe mô tô nhƣng xe không nổ máy. T rời khỏi chiếc xe Honda Dream, cất vam phá khóa vào túi quần và ngồi lên chiếc xe khác ở sân nhà ông H để tìm sơ hở để tiếp tục lấy 02 chiếc xe trên thì bà P đi ra phát hiện ổ khóa điện của xe đã bị phá. T sợ bị phát hiện nên vứt chiếc vam phá khóa ra vƣờn và đi ra cổng bỏ về thì bị quần chúng nhân dân bắt giữ.
Tại kết luận định giá tài sản số 557/HĐĐG ngày 16/7/2018, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thị xã Chí Linh kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển số 34B2-027.09, đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 14/7/2018 có giá trị là 13.580.000đ. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S màu đen xám, biển số 34P1-0917, đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 14/7/2018 có giá trị là 7.815.000đ.
Tại bản Cáo trạng số 66/CT-VKS-CL ngày 03/10/2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh đã truy tố Nguyễn Văn T về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay:
Bị cáo Nguyễn Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nhƣ đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, nay đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 15, khoản 1, 3 Điều 57, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội.
Xử phạt Nguyễn Văn T từ 27 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 18/7/2018.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất về xử lý vật chứng và án phí của vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra Công an thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng, Kiểm sát viên thu thập, những ngƣời tham gia tố tụng cung cấp; hành vi, quyết định tố tụng do Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tè và tại phiên tòa không có khiếu nại hoặc tố cáo. Do đó xác định những chứng cứ, tài liệu đã thu thập; các hành vi, quyết định tố tụng của ngƣời tiến hành tố tụng đó thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của Nguyễn Văn T tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai, bản cung của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, ngƣời làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nhƣ vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 14/7/2018, tại nhà ông Nguyễn Văn H ở KDC Đ, phƣờng H, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng, Nguyễn Văn T có hành dùng vam phá khóa hình chữ “T” phá khóa nhằm chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển số 34B2-027.09 của bà Nguyễn Thị P trị giá 13.580.000đ và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, biển số 34P1-0917 của anh Lê Thanh Y và chị Lê Thị Đ trị giá 7.815.000đ. Nhƣng do sự việc bị phát hiện nên bị cáo chƣa chiếm đoạt đƣợc tài sản. Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, bởi lẽ:
[3] Hành vi của Nguyễn Văn T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân - Một khách thể mà Bộ luật hình sự đã quy định và bảo vệ. Với động cơ tƣ lợi, muốn chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác nhƣng không do bản thân lao động chính đáng mà có, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong việc bảo vệ tài sản của chủ sở hữu lén lút nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại với tổng tài sản trị giá là 21.395.000đ làm mất trật tự, trị an trên địa bàn. Nghiêm trọng hơn bị cáo đã hai lần bị kết án, chƣa đƣợc xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trƣờng hợp tái phạm nguy hiểm. Bị cáo thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý, mặc dù đã nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhƣng vẫn thực hiện. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Mặc dù chƣa chiếm đoạt đƣợc tài sản nhƣng là do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của bị cáo. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh truy tố bị cáo T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật. Với hành vi của mình, bị cáo T phải chịu một hình phạt nghiêm khắc, tƣơng xứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện. Để hình phạt đó không chỉ là sự trừng trị của pháp luật đối với ngƣời phạm tội mà còn là bài học để dăn đe, giáo dục chung trong cộng đồng. Bị cáo phạm tội thuộc trƣờng hợp phạm tội chƣa đạt nên cần áp dụng Điều 15 và khoản 1, 3 Điều 57 Bộ luật hình sự để xem xét khi lƣợng hình.
Xem xét, cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, thấy rằng:
Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi của mình, phạm tội nhƣng gây hậu quả không lớn, bố đẻ bị cáo là ông Nguyễn Văn Q là ngƣời có công với cách mạng đƣợc tặng thƣởng Huân chƣơng kháng chiến. Do vậy bị cáo T đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo là ngƣời có nhân thân xấu đã nhiều lần bị kết án và đƣợc giáo dục cải tạo nhƣng không cải sửa lỗi lầm nay lại phạm tội.
Xét cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo đƣợc cải tạo dƣới sự quản lý nghiêm của nhà nƣớc giúp bị cáo cải tạo trở thành ngƣời công dân tốt, có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại xe; ổ khóa xe bị phá nhƣng các bị hại xác định thiệt hại không lớn nên không yêu cầu bị cáo T phải bồi thƣờng nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ 01 chiếc vam phá khóa. Đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội, xét không có giá trị nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm h, s khoản 1và khoản 2 Điều 51, Điều 15, khoản 1, 3 Điều 57, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội.
Xử phạt Nguyễn Văn T 27 (Hai mƣơi bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 18/7/2018.
Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 01 Vam phá khóa hình chữ “T” bằng kim loại dài 12,5cm, gồm 02 phần đƣợc nối với nhau. Phần thứ nhất có cấu trúc thanh trụ tròn dài 05cm, phần đầu trên thanh trụ tròn có thanh ngang dài 07cm, phần tiếp giáp (nối với đầu vam) bị biến dạng. Phần thứ hai là đầu vam dài 7,9cm có dạng hình lục giác (cạnh 0,5cm), có một đầu mỏng dẹt, nhọn. (Theo biên bản bàn giao giữa Công an thị xã Chí Linh và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chí Linh ngày 03/10/2018).
Về án phí: Bị cáo T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Báo bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Chí Linh; - Công an thị xã Chí Linh; - Sở Tƣ pháp tỉnh Hải Dƣơng; - Bị cáo; - Bị hại; - Lƣu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Văn Quyết |