- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Văn T phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi,…"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Mai Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69 /2018/HS - ST Ngày: 05 - 6 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Trọng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hạ - Bà Bàng Thị Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Xuân Chiêm là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Vọng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 6 năm 2018 tại Hội trường xét xử 1, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2018/TLST-HS ngày 21/3/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2018/QĐXXST-HS ngày 03/5/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số:05/2018/ HSST-QĐ ngày 17/5/2018 đối với bị cáo:
* Mai Văn T - Tên gọi khác: Không;
Sinh ngày 19/9/1992, tại huyện Ng, tỉnh Thanh Hóa;
Nơi ĐKNKTT: Xóm 4, xã N, huyện Ng, tỉnh Thanh Hóa;
Chỗ ở: Chung cư Đông Bắc, tổ 4, khu 7B, phường Q, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh;
Nghề nghiệp: Sinh viên trường Cao đẳng nghề Việt – Hàn (đã thôi học);
Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: không.
Con ông Mai Văn Th, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị H sinh năm 1971;
Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú ngày 15/7/2017, bị tạm giam đến ngày 08/12/2017 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa.
* Những người bị hại:
- Lưu Chung Đ, sinh năm 1987; Nơi ĐKHKTT: SN 152, phố DC, phường Tr, thành phố H, tỉnh Thanh Hóa – vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xử án vắng mặt.
- Lô Văn Đ1, sinh năm 1997; Nơi ĐKHKTT: Thôn TT, xã ĐP, huyện CC, tỉnh Nghệ An – vắng mặt tại phiên tòa.
* Những người làm chứng:
- Anh Dương Văn V, sinh năm 1991; Nơi ĐKHKTT: Thôn BP, xã YK, huyện CC, tỉnh Nghệ An – vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xử án vắng mặt.
- Anh Nguyễn Thái H, sinh năm 1994; Nơi ĐKHKTT: Tổ 1, khu 8B, phường QH, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh – vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Đinh Ngọc T1, sinh năm 1992; Nơi ĐKHKTT: khu ĐL, phường MT, thị xã QY, tỉnh Quảng Ninh – vắng mặt tại phiên tòa.
- Bà Tô Thị N, sinh năm 1950; Nơi ĐKHKTT: Tổ 4, khu 7B, phường QH, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh – vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Mai Văn T, Lưu Chung Đ và Lô Văn Đ1 có mối quan hệ quen biết do đều là thực tập sinh tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 35 – Tổng công ty Đông Bắc và cùng ở tại chung cư Đông Bắc, thuộc tổ 4, khu 7B, phường Quang Hanh, thành phố Cẩm Phả. Khoảng đầu tháng 7 năm 2017, Đặng Hùng L bạn của Tâm đến ở cùng. Ngày 10/7/2017, L mượn điện thoại của Lưu Chung Đ để sử dụng, sau đó đem đi cầm cố lấy tiền ăn tiêu, nên bị Lưu Chung Đ đánh L. Đến 17 giờ ngày 14/7/2017, Mai Văn T và Lưu Chung Đ, Lô Văn Đ1 cùng ăn cơm, uống rượu tại bếp ăn tập thể Chung cư, T yêu cầu Lưu Chung Đ xin lỗi L, nhưng Lưu Chung Đ không đồng ý, dẫn đến hai người cãi nhau, sau đó, mọi người về phòng. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, T cầm theo 01 con dao, loại dao gọt hoa quả cán màu vàng và 01 chiếc xilanh nhựa không có kim tiêm, cất giấu trong túi quần, rồi đi đến phòng của Lưu Chung Đ. Thấy Lưu Chung Đ, Lô Văn Đ1 và Dương Văn V đang ngồi uống nước, T ngồi xuống và yêu cầu Lưu Chung Đ phải xin lỗi bạn của T, thấy T có biểu hiện say rượu, Lưu Chung Đ đuổi T về phòng, thì T đứng dậy chửi bới và rút con dao trong túi quần ra dọa đâm Lưu Chung Đ. Lưu Chung Đ tiếp tục đuổi T về phòng, nhưng T không về mà vẫn chĩa dao về phía Lưu Chung Đ. Sợ T dùng dao tấn công nên Lưu Chung Đ đã cầm chiếc điếu cày ở cạnh bàn uống nước giơ lên dọa để đuổi T ra khỏi phòng. T lùi ra đến cửa phòng, rồi dùng tay phải rút chiếc xilanh nhựa trong túi quần ra ném về phía Lưu Chung Đ, nhưng không trúng. Lưu Chung Đ cầm chiếc điếu cày vụt về phía T nhưng bị trượt chân, bị lao người về phía trước, chiếc điếu cày chạm nhẹ vào đầu T. T cầm dao bằng tay trái đâm 01 nhát theo hướng từ trên xuống, trúng vào lưng Lưu Chung Đ. Thấy vậy, Lô Văn Đ1 cầm 01 thanh kim loại phơi quần áo vụt 01 nhát vào vai T. T cầm dao đâm 01 nhát trúng vào mặt sau cánh tay phải Lô Văn Đ. Lô Văn Đ cầm thanh kim loại tiếp tục vụt về phía T, T khua dao đỡ, nên lưỡi dao bị gãy rời khỏi cán và T bỏ chạy. Lưu Chung Đ, Lô Văn Đ và V đuổi theo. T chạy đến hiệu cầm đồ Tuấn Linh, cách cổng chung cư khoảng 300 mét, thì Lưu Chung Đ, Lô Văn Đ1, V đuổi kịp và dùng tay, chân và mảnh gỗ đánh T, nhưng được mọi người can ngăn. Sau đó, Lưu Chung Đ, Lô Văn Đ1 được đưa đến Bệnh viện cấp cứu, T đến Công an thành phố Cẩm Phả đầu thú.
Hiện trường vụ án tại phòng tập thể A.309 thuộc tầng 3, khu nhà A4, phát hiện trên nền gạch gian thứ thứ nhất, cách cửa ra vào 1,6m và cách tường ngăn phía Đông giữa hai gian 0,2m có 01 lưỡi dao bằng kim loại, một đầu nhọn, sắc dài 11,5cm, bản rộng 02cm nằm song song với tường ngăn phía Đông, mũi dao quay hướng cửa ra vào, trên dao có dính chất màu nâu đỏ đã khô. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả đã thu giữ lưỡi dao trên. Ngoài ra, còn thu giữ 01 xilanh nhựa màu trắng loại 03ml, dài 08cm, không có mũi kim. Đối với thanh kim loại, chiếc điếu cày mà Lưu Chung Đ, Lô Văn Đ1 dùng để đánh T và phần cán của con dao T dùng để đâm Lưu Chung Đ, Lô Văn Đ1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả đã truy tìm, nhưng không thu giữ được.
Tại bản Kết luận giám định số 34/GĐSV ngày 05/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Chất trên lưỡi dao thu giữ là máu của Lô Văn Đức.
Tại Giấy chứng nhận thương tích ngày 14/7/2017 của Bệnh viện đa khoa Cẩm Phả xác định thương tích của Lưu Chung Đ: 01 vết thương cột sống ngang lưng mức D8-D9 dài 2,5cm, miệng sắc gọn, xuyên chéo từ phải sang trái, thấu khoang màng phổi trái; Tràn dịch, khí khoang màng phổi trái.
Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 355/17/TgT ngày 25/7/2017 của Trung Tâm pháp y tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Lưu Chung Đ là 14%. Vết thương do vật sắc nhọn gây nên.
Tại Giấy chứng nhận thương tích ngày 17/7/2017 của Bệnh viện đa khoa Cẩm Phả xác định thương tích của Lô Văn Đ1: 01 vết thương mặt sau trên cánh tay phải dài 02cm.
Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 346/17/TgT ngày 18/7/2017 của Trung Tâm pháp y tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Lô Văn Đức là 02%. Vết thương do vật sắc nhọn gây nên.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Mai Văn T khai nhận khai nhận phù hợp với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đã truy tố. Bị cáo thừa nhận bị cáo cùng Lưu Chung Đ và Lô Văn Đ1 có mối quan hệ quen biết từ trước, đều là thực tập sinh tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 35 – Tổng công ty Đông Bắc và cùng ở tại chung cư Đông Bắc, thuộc tổ 4, khu 7B, phường Quang Hanh, thành phố Cẩm Phả, tháng 7 năm 2017 có Lĩnh đến chơi và bị cáo có giới thiệu L với Lưu Chung Đ và Lô Văn Đ1 để mọi người làm quen nhau, sau đó L có mượn điện thoại của Lưu Chung Đ và đem đi cầm cố và bị Lưu Chung Đ đánh, khi bị đánh, L có trách bị cáo là không can Lưu Chung Đ đánh L rồi L bỏ đi. Khi bị L trách bị cáo bức xúc và muốn Lưu Chung Đ phải xin lỗi L nhưng Lưu Chung Đ không đồng ý. Đến ngày 14/7/2017 bị cáo một mình đến phòng Lưu Chung Đ để yêu cầu Lưu Chung Đ xin lỗi Lĩnh, trước khi đi bị cáo có cầm một con dao gọt hoa quả cho vào túi quần mục đích để phòng thân nếu xảy ra đánh nhau và trên đường đi bị cáo có nhặt được một xi lanh nhựa không có mũi kim tiêm và đút vào túi quần. Khi đến phòng 309 thấy có Lưu Chung Đ, Lô Văn Đ, V đang ngồi ở bàn uống nước, bị cáo yêu cầu Lưu Chung Đ phải xin lỗi L nhưng Lưu Chung Đ đuổi bị cáo về, bị cáo đã rút dao ra dọa đánh Lưu Chung Đ, Lưu Chung Đ đứng dậy thì lúc đó V đi vào phòng ngủ còn Lô Văn Đ1 đứng sau Lưu Chung Đ và đuổi bị cáo ra khỏi phòng nên bị cáo cầm dao dọa đâm Lô Văn Đ1, thì thấy Lưu Chung Đ cầm điếu cày dồn bị cáo ra khỏi phòng, bị cáo rút chiếc xi lanh trong túi quần ra và ném về phía Lưu Chung Đ nhưng không trúng, rồi Lưu Chung Đ giơ điếu cày lên đập vào đầu bị cáo, khi Lưu Chung Đ đập điếu cày vào bị cáo thì người hơi cúi xuống và bị cáo đã cầm dao đâm vào lưng Lưu Chung Đ, lúc đó LôVăn Đ1 cầm gậy sắt đập vào vai bị cáo, bị cáo tiếp tục cầm dao đâm vào bắp tay Lô Văn Đ1 nhưng Lô Văn Đ1 vẫn tiếp tục cầm gậy sắt đánh bị cáo nên bị cáo dơ dao lên đỡ và dao bị gẫy lưỡi dao rơi xuống đất thì bị cáo bỏ chạy và vứt cán dao đi, sau đó Lưu Chung Đ, Lô Văn Đ1, V và một người nữa bị cáo không biết tên đuổi kịp và đánh bị cáo, sau đó có người can ngăn, rồi bị cáo đến Công an đầu thú.
Người bị hại Lưu Chung Đ, Lô Văn Đ1 tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại Cơ quan điều tra có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ ngày 14/7/2017 khi Lưu Chung Đ, Lô Văn Đ1 và V đang ngồi ở Phòng 309 thì thấy Tâm mở cửa phòng vào ngồi xuống bàn uống nước nói xin điếu thuốc lào, xong nói giọng đe dọa. Lúc này Lưu Chung Đ bảo T đi về thì T rút dao ra đe dọa rồi tiến về phía Lưu Chung Đ và nói “ông thích chết không”, Lưu Chung Đ cầm điếu cày nói với Lô Văn Đ1 và V đuổi T ra khỏi phòng, T lùi ra đến cửa phòng rồi cầm xi lanh ném về phía Lưu Chung Đ, Lưu Chung Đ cầm điếu cày đập trúng người T và bị trượt chân ngả người về phía trước thì bị T đâm trúng lưng và chảy máu còn Văn Đ chạy vào phòng ngủ cầm một thanh Inox (phơi quần áo) ra đánh lại T thì bị T dùng dao đâm vào tay phải và lúc đó dao của T bị gãy lưỡi và T bỏ chạy. Lưu Chung Đ, Lô Văn Đ1 cùng V đuổi theo T đến cổng thì được mọi người can ngăn và Lưu Chung Đ, Lô Văn Đ1 được đưa đến bệnh viện điều trị vết thương.
Những người làm chứng Dương Văn V, Nguyễn Thái H, Đinh Ngọc T, Tô Thị N tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại Cơ quan điều tra có lời khai, nội dung cơ bản phù hợp với lời khai của bị cáo Mai Văn T và các lời khai của bị hại Lưu Chung Đ và Lô Văn Đ1.
Tại bản cáo trạng số 44/CT-VKSCP, ngày 16/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo tố bị cáo Mai Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134; khoản 3 Điều 7; điểm b, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015; Điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999.
Đề nghị tuyên bị cáo Mai Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị mức án từ 24 đến 27 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 54 tháng.
- Về trách nhiệm dân sự:
+ Bị cáo và người bị hại Lưu Chung Đ đã thỏa thuận bồi thường xong nên không đề cập giải quyết.
+ Người bị hại Lô Văn Đ1 quá trình điều tra yêu cầu bị cáo bồi thường 500 nghìn đồng tiền thuốc men và điều trị vết thương, tại phiên tòa bị cáo chấp nhận bồi thường cho Lô Văn Đ1 số tiền trên.
Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự 2015; khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; khoản 1 Điều 586 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Mai Văn T phải bồi thường cho anh Lô Văn Đ1 số tiền 500.000 đ (Năm trăm nghìn đồng).
- Về xử lý vật chứng : Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại, một đầu nhọn, sắc dài 11,5cm và 01(một) xi lanh bằng nhựa loại 03ml dài 08cm.
Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng, bị cáo Tâm đã ân hận về lỗi lầm của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau :
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cẩm Phả, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét hành vi của bị cáo Mai Văn T đã đúng với hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu; phù hợp với biên bản thực nghiệm điều tra, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định pháp y về thương tích, lời khai của người bị hại, người làm chứng cũng như biên bản xác định địa điểm cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Do mâu thuẫn xích mích trong sinh hoạt, Mai Văn Tâm đã có hành vi dùng dao đâm Lưu Chung Đ và Lô Văn Đ1 gây thương tích. Vì vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại khoản 2 (với tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 có mức khung hình phạt từ 02 năm đến 06 năm tù.
Hành vi của bị cáo Mai Văn T là là nguy hiểm cho xã hội, đã dùng dao trực tiếp gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân ở khu vực. Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống đời thường, bị cáo không dùng các quy tắc ứng xử thông thường mà dùng biện pháp bạo lực đối với người khác mà xã hội nghiêm cấm là thể hiện việc bị cáo coi thường kỷ cương pháp luật để thực hiện hành vi gây thương tích cho Lưu Chung Đ bị tổn hại 14% sức khoẻ và Lô Văn Đ1 bị tổn hại 02 % sức khỏe. Do đó cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên trong vụ án này Hội đồng xét xử xét thấy các bị hại cũng phần nào có lỗi, bởi trong Chung cư có bộ phận bảo vệ quản lý, vừa động viên T về và đồng thời gọi điện thoại cho bảo vệ Chung cư đến giải quyết theo thẩm quyền, nhưng Lưu Chung Đ không làm việc đó mà lại dùng điếu cày giơ lên đe dọa và đập về phía Tâm, từ đó làm cho sự việc trở lên quyết liệt hơn và sự việc đã xảy ra.
Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử, thấy: Bị cáo xuất thân từ gia đình lao động, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, đã từng tham gia trong quân đội nhân dân Việt Nam, bản thân bị cáo có tiền sử mắc bệnh rối loạn tâm thần tuy đã điều trị khỏi, nhận thức pháp luật có phần hạn chế, sau khi gây án đã đến cơ quan Công an đầu thú, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và đã tự nguyện bồi thường cho Lưu Chung Đ số tiền 12 triệu đồng, bị hại Lưu Chung Đ có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Với các tình tiết giảm nhẹ trên nên không cần thiết bắt bị cáo cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương cùng gia đình bị cáo quản lý giáo dục cũng đủ để bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả về áp dụng điều luật và mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp pháp luật cần được chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự:
- Lưu Chung Đ yêu cầu bị cáo bồi thường viện phí, thuốc men, công người chăm sóc mất thu nhập, tổn thất tinh thần và bồi bổ sức khỏe. Tổng cộng là 30 triệu đồng, nhưng trước khi Tòa án xét xử vụ án, bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại Lưu Chung Đ 12 triệu đồng, bị cáo đã bồi thường xong, bị hại Lưu Chung Đ có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
- Lô Văn Đ1 quá trình điều tra yêu cầu bị cáo bồi thường 500 nghìn đồng tiền thuốc men điều trị vết thương, nhưng không có tài liệu chứng minh và đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa hợp lệ nhiều lần nhưng Lô Văn Đ1 không đến, nhưng tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho Lô Văn Đ1 500 nghìn đồng, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về vật chứng vụ án:
- Đối với thanh kim loại, chiếc điếu cày mà Lưu Chung Đ, Lô Văn Đ1 dùng để đánh T và phần cán của con dao T dùng để đâm Lưu Chung Đ, Lô Văn Đ1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả đã truy tìm, nhưng không thu giữ được, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
- 01 lưỡi dao bằng kim loại, một đầu nhọn, sắc dài 11,5cm và 01 xi lanh bằng nhựa loại 03ml dài 08cm không có mũi kim là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134; khoản 3 Điều 7; điểm b, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, khoản 2 Điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999.
Bị cáo Mai Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Mai Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm - 05/ 6/ 2018).
Giao bị cáo Mai Văn T cho Uỷ ban nhân dân xã N, huyện Ng, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo Mai Văn T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 ; khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585 ; khoản 1 Điều 586 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Mai Văn T phải bồi thường cho anh Lô Văn Đ1 số tiền 500.000 đ (Năm trăm nghìn đồng).
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại, một đầu nhọn, sắc dài 11,5cm và 01(một) xi lanh bằng nhựa loại 03ml dài 08cm.
Toàn bộ vật chứng, tình trạng như trong Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 90/BB-THA, ngày 30/ 3/2018 giữa Công an thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Mai Văn T phải nộp 200.000 đ(Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đ(Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án - 05/6/2018.
Vắng mặt bị hại Lưu Chung Đ, bị hại Lô Văn Đ1. Báo cho những người bị hại biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; bị hại; - VKSND thành phố Cẩm Phả; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - TAND tØnh Quảng Ninh; - Cơ quan CSĐT Công an TP. Cẩm Phả; - Cơ quan THAHS Công an TP. Cẩm Phả; - Chi cục THADS thành phố Cẩm Phả; - Lưu hồ sơ, Văn phòng. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Văn Trọng |