vanban.org

Bản án 69/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 23/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lưu Tấn T phạm tội Vận chuyển hàng cấm.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Lưu Tấn T 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 24/4/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Lưu Tấn T - phạm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm (điều 155 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lưu Tấn T phạm tội Vận chuyển hàng cấm.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỮU LŨNG
TỈNH LẠNG SƠN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2018/HS-ST
Ngày 23 - 8 - 2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Phương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vy Văn Lâm và ông Đặng Xuân Tuấn.

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Duy Khánh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Mã Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2018/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Lưu Tấn T, sinh ngày 10 tháng 6 năm 1996 tại huyện H, tỉnh K; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú (ĐKHKTT) và chỗ ở hiện nay: Khu A, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh H (đã chết) và bà Lưu Thị Kim A, sinh năm 1974; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa từng bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật; bị bắt, tạm giam từ ngày 24/4/2018 cho đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Vi Văn T, sinh năm 1968; Nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã P, huyện N, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Lưu Tấn T thường sang chợ L, Trung Quốc bốc vác hàng thuê, khoảng 17 giờ ngày 23/4/2018, khi T đang ở nhà người quen ở khu vực gần cây xăng Y, huyện C, tỉnh Lạng Sơn thì nhận được điện thoại của bà chủ hàng gọi sang chợ L, Trung Quốc bốc hàng. Sau khi nghe điện thoại, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98L7-5594 lên thị trấn Đ, huyện C gửi ở đó rồi đi bộ theo đường mòn “05” gần cửa khẩu C thuộc huyện V, tỉnh Lạng Sơn sang chợ L, Trung Quốc để bốc hàng thuê. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì T nhận được điện thoại của một người đàn ông tên K nhà ở xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang nhờ T mua hộ 10 hộp pháo dàn loại 36 quả/hộp, T đồng ý. Đến khoảng 01 giờ ngày 24/4/2018 sau khi bốc hàng xong, T đến cửa hàng của người Trung Quốc ở chợ L mua 18 hộp pháo dàn loại 36 quả/hộp với số tiền là 1.000.000đ tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam, mục đích mua cho K 10 hộp còn 08 hộp T đem về để sử dụng. Sau khi mua xong T cho 18 hộp pháo vào trong túi nilon màu đen rồi cho vào trong thùng catton đóng lại, sau đó cho vào chiếc bao tải dứa màu xanh để vận chuyển về Việt Nam. Đến khoảng 03 giờ cùng ngày, T vác bao tải dứa đựng pháo theo đường mòn về Việt Nam, khi về đến Việt Nam, T giấu bao tải đựng pháo vào bụi cỏ ven đường, rồi đi lấy xe mô tô và quay lại chỗ giấu pháo lấy bao tải đựng pháo buộc lên sau xe mô tô biển kiểm soát 98L7-5594 vận chuyển về nhà.

Đến 09 giờ 30 phút ngày 24/4/2018, tại Km 96 + 900 đường Quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn B, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, Công an huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn phối hợp cùng Tổ công tác Trạm kiểm soát giao thông Tùng Diễn thuộc Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Lạng Sơn kiểm tra xe mô tô biển kiểm soát 98L7 – 5594 do Nguyễn Lưu Tấn T điều khiển theo hướng Hà Nội – Lạng Sơn, phát hiện phía sau xe có một bao tải dứa màu xanh bên trong có 01 thùng catton chứa 18 hộp pháo dàn loại 36 quả/1 hộp. Công an huyện Hữu Lũng đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Lưu Tấn T và thu giữ vật chứng gồm: 18 hộp pháo dàn loại 36 quả/hộp; 01 bao tải dứa màu xanh; 01 thùng catton đã cũ rách; 01 túi nilon màu đen đã cũ rách; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu VECSTAR màu sơn nâu, biển kiểm soát 98L7-5594, số khung VVNPC0012VN025238, số máy VVN26150FNG025238, dán tem HONDA DREAM II đã qua sử dụng.

Tại biên bản xác định trọng lượng hồi 10 giờ 40 phút ngày 24/4/2018 xác định 18 hộp pháo dàn loại 36 quả/hộp thu giữ của Nguyễn Lưu Tấn T có tổng trọng lượng là 25,2 kg đã trừ bì.

Tại bản kết luận giám định số 2238/C54-P2 ngày 26/4/2018 của Viện khoa học hình sự, Tổng cục cảnh sát kết luận: Các mẫu vật gửi giám định bên trong đều có chứa thuốc pháo, khi đốt hoặc kích thích có gây tiếng nổ.

Ngày 25/6/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã quyết định tiêu hủy số lượng pháo còn lại sau khi trích mẫu vật đi giám định.

Tại Cáo trạng số 67/CT-VKSHL-HS ngày 25 tháng 7 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Lưu Tấn T về tội Vận chuyển hàng cấm theo quy định tại điểm k, khoản 2, Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Lưu Tấn T phạm tội Vận chuyển hàng cấm; Áp dụng điểm k, khoản 2, Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Lưu Tấn T từ (02) hai năm đến 03 (ba) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng, đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước chiếc xe mô tô nhãn hiệu VECSTAR, biển kiểm soát 98L7-5594, số khung VVNPC0012VN025238, số máy VVN26150FNG025238, dán tem HONDA DREAM II; Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc thùng catton, 01 túi nilon màu đen và 01 chiếc bao tải dứa màu xanh.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Lưu Tấn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ai có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay lời khai của bị cáo Nguyễn Lưu Tấn T phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 24/4/2018 bị cáo Nguyễn Lưu Tấn T đến chợ L, Trung Quốc mua 18 hộp pháo dàn, loại 36 quả/hộp sau đó vận chuyển về Việt Nam theo đường mòn “05” gần cửa khẩu C, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, với mục đích mang về quê ở huyện L, tỉnh Bắc Giang để sử dụng. Số lượng pháo bị cáo Nguyễn Lưu Tấn T vận chuyển có trọng lượng 25,2 kg, qua giám định xác định số pháo trên đều chứa thuốc pháo và khi đốt hoặc kích thích sẽ gây ra tiếng nổ. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng truy tố bị cáo Nguyễn Lưu Tấn T về tội Vận chuyển hàng cấm theo quy định tại điểm k, khoản 2, Điều 191 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với các loại hàng hoá mà Nhà nước cấm lưu thông, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức hành vi vận chuyển pháo nổ qua biên giới là vi phạm pháp luật, cũng như tác hại của pháo nổ đối với bản thân và xã hội, nhưng do coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Hơn nữa, bị cáo không có tiền án, tiền sự nên xác định bị cáo có nhân thân tốt.

Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

Thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về việc xử lý vật chứng: Đối với 18 hộp pháo dàn loại 36 quả/hộp thu giữ của bị cáo là hàng cấm do bị cáo mua từ Trung Quốc về Việt Nam, sau khi trích mẫu vật đi giám định, số pháo còn lại Cơ quan điều tra đã tiêu hủy theo quy định, Hội đồng xét xử chỉ cần xác nhận; Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu VECSTAR sơn màu nâu, biển kiểm soát 98L7-5594 là xe của bị cáo sử dụng để vận chuyển pháo nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước; Đối với 01 chiếc thùng catton, 01 túi nilon màu đen và 01 chiếc bao tải dứa màu xanh được dùng để đựng pháo khi vận chuyển cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông tên K ở xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang, bị cáo khai người đàn ông này gọi điện nhờ bị cáo mua hộ 10 hộp pháo dàn loại 36 quả/hộp, nhưng bị cáo không biết rõ nhân thân lai lịch và không nhớ số điện thoại của người đàn ông đó, hơn nữa, khi bị Công an phát hiện bị cáo đã bỏ chạy làm rơi chiếc điện thoại bị cáo dùng để liên lạc với người tên K, nay không tìm được, nên không có cơ sở để điều tra làm rõ, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Lưu Tấn T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm k, khoản 2, Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 50; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lưu Tấn T phạm tội Vận chuyển hàng cấm.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Lưu Tấn T 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 24/4/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng:

- Xác nhận Cơ quan điều tra Công an huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã tiêu hủy toàn bộ số lượng pháo còn lại sau khi trích mẫu để giám định;

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu VECSTAR, biển kiểm soát 98L7-5594, số khung VVNPC0012VN025238, số máy VVN26150FNG025238, dán tem HONDA DREAM II đã qua sử dụng;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thùng catton, 01 (một) túi nilon màu đen và 01 (một) vỏ bao tải dứa màu xanh.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/7/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hữu Lũng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn).

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Lưu Tấn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ