- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn B - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2018/HSPT Ngày: 21/8/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;
Các Thẩm phán: Ông Trần Hà và ông Nguyễn Việt Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Đõ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên Trung cấp.
Ngày 21 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa công khai, để xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 63/2018/HSPT ngày 06 tháng 7 năm 2018 do có kháng cáo của bị cáo Dương Văn B và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên đối với bản án hình sự sơ thẩm số 19/2018/HSST ngày 24 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã S, tỉnh Phú Yên.
Bị cáo có kháng cáo và bị kháng nghị: Dương Văn B, sinh năm: 1989; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiê ̣p: Làm biển; trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Dương Văn D (chết) và bà Huỳnh Thị S, sinh năm 1955; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 30/3/2017, sau khi Võ Thành L chém Dương Thanh B1 gây thương tích tại thôn H, xã X, thị xã S (đã bị xét xử tại Bản án hình sự phúc thẩm số 36/2018/HSPT ngày 10 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân tinh̉ Phú Yên); thì Võ Kim Khánh điều khiển xe ô tô biển số 51F-438.83 chở L, Đỗ Thị Ng, Dương Thị M, Phạm Gia V (vợ Kh) cùng 03 người con của Kh và L đi từ thôn H về nhà tại thôn Hòa Mỹ, xã X. Biết sự việc, Nguyễn Văn P gọi điện thoại cho Dương Văn B (anh ruột B1) nói: “B chặn chiếc xe con màu trắng 51 lại, chứ người đi trên xe này chém B1 bị thương ở tay”. Khi thấy xe ô tô biển số 51F-438.83, Bi ra tín hiệu dừng xe, nhưng Khánh không dừng, nên Huỳnh Thanh Nh điều khiển xe mô tô chở Bi đuổi theo; cùng lúc này, Nguyễn Văn Ph, Đỗ Trần H, Phan Thanh H biết tin việc B1 bị người trên xe ô tô cầm dao chém, nên điều khiển xe mô tô đuổi theo; đến đoạn đường xóm “Mò O” gần cầu H, Kh dừng xe để L thay Kh lái, Hải đang điều khiển xe mô tô đuổi theo tông vào đuôi xe ô tô bị ngã. Khi xe ô tô đến Quốc lộ 1A thuộc thôn Hòa Mỹ, xã X thì L điều khiển xe quay đầu; thì B, Ph leo qua dải phân cách để chặn xe ô tô lại, nhưng L vẫn tiếp tục điều khiển xe chạy, nên Bi vào lề đường cầm khối bê tông ném vào kính chắn gió trước xe ô tô làm vỡ kính, gây thiệt hại 9.818.966 đồng; khối bê tông rơi vào bên trong xe trúng chị Phạm Gia V đang ngồi ở ghế trước, bên phụ gây thương tích, tỷ lệ 29%.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2018/HSST ngày 24 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã S đã tuyên Dương Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm b, đ, p khoản 1, Điều 46; Điều 47; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41 ngày 20/6/2017; khoản 3 Điều 7, điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015; phạt Dương Văn B - 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Áp dụng khoản 1 Điều 143; điểm b, đ, p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41 ngày 20/6/2017; khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015; phạt Dương Văn B 10.000.000đ (Mười triệu đồng) về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 27/5/2018, bị cáo Dương Văn B có Đơn kháng cáo xin được hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”.
Ngày 21/6/2018, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 05/QĐ-VKSPY; đề nghị cấp phúc thẩm, sửa bản án sơ thẩm, tăng hình phạt đối với bị cáo Dương Văn B, về tội “Cố ý gây thương tích”.
Tại phiên toà bị cáo Dương Văn B khai, việc Dương Thanh B1 bị Võ Thành L chém gây thương tích như thế nào, bị cáo không biết và không được chứng kiến; khi đang chọt bida, nghe Nguyễn Văn P gọi điện thoại chặn xe ô tô biển số 51F-438.83, vì có người ngồi trên xe chém B1; bị cáo liền chạy ra chặn xe nhưng không được, nên cùng một số người dùng xe mô tô đuổi theo đến Quốc lộ 1A, thấy xe ô tô quay đầu chạy vào hướng Nam, bị cáo liền nhảy qua dải phân cách, chặn trước đầu xe, nhưng thấy xe không giảm tốc độ, nên bị cáo chạy vào lề đường cầm khối bê tông, hình trụ ném vào kính chắn gió trước xe ô tô làm vỡ kính, gây thương tích cho chị Phạm Gia V. Bị cáo không cố ý gây thương tích cho chị Vy, mục đích ném khối bê tông vào xe là để dừng xe lại, bị cáo đã khắc phục thiệt hại trước khi xét xử, nên xin hưởng án treo.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Văn B, mà chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 05/QĐ-VKSPY ngày 21/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên, để sửa bản án sơ thẩm, tăng hình phạt đối với bị cáo Dương Văn B từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng về tội “Cố ý gây thương tích”.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Khi đang chơi bida, Dương Văn B nghe Nguyễn Văn P gọi điện thoại, nói chặn xe ô tô biển số 51F-438.83, vì có người ngồi trên xe chém Dương Thanh B1 (em B) gây thương tích; bị cáo không biết và không thấy Dương Thanh B1 bị Võ Thành L chém gây thương tích như thế nào, nhưng ngay lập tức ra ngoài đường chặn xe ô tô, khi chặn không được lại tổ chức truy đuổi, không chỉ gây nguy hiểm cho chính bản thân bị cáo, mà còn gây mất trật tự trị an, an toàn giao thông đường bộ. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ việc yêu cầu dừng xe ô tô không thuộc thẩm quyền của bị cáo, và hành vi dùng khối bê tông xi măng, hình trụ, cứng chắc ném vào kính chắn gió phía trước xe ô tô đang chạy tới, trong xe có nhiều người là nguy hiểm; nhưng bị cáo vẫn thực hiện, là thể hiện ý thức bất chấp pháp luật, xem thường sức khỏe, tài sản của người khác; đã gây thương tích cho bị hại Phạm Gia V, tỷ lệ 29% và gây thiệt hại về tài sản, trị giá: 9.818.966đ; nên cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 2 Điều 104; khoản 1 Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 1999; trên cơ sở áp dụng nguyên tắc có lợi theo Nghị quyết số 41 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; điểm đ khoản 2 Điều 134; khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng tội.
Hành vi của bị cáo thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội cao độ, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến tài sản và sức khỏe của người khác trái pháp luật, mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương, nên cần xử phạt nghiêm. Khi lượng hình án sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng chỉ chỉ phạt bị cáo 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; 10 triệu đồng về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” là nhẹ, không tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, không đảm bảo tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Bị cáo cùng một lúc phạm nhiều tội, nên kháng cáo xin được hưở ng án treo là không có cơ sở, do đó không chấp nhận; mà chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên, tăng hình phạt về tội “Cố ý gây thương tích” để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo. Đối với tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” do không có kháng cáo, kháng nghị theo hướng chuyển hình phạt nặng hơn, nên cấp phúc thẩm không thể khắc phục được; tuy nhiên, cũng cần xem xét sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, bồi thường, khắc phục toàn bộ thiệt hại, thực sự ăn năn hối cải được người bị hại bãi nại; mặt khác khi dùng khối bê tông ném vào kính chắn gió xe ô tô làm hư hỏng tài sản, bị cáo đã bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của phía bị hại, nên không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” để xét xử lại, sẽ làm vụ án kéo dài, nhưng cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
Bị cáo Dương Văn B kháng cáo không được chấp nhận phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm theo Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Áp dụng khoản 2 Điều 104; khoản 1 Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; điểm đ khoản 2 Điều 134; khoản 1 Điều 178; điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Không chấp nhận khá ng cá o xin hưởng án treo của bị cáo Dương Văn B. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên – Sửa một phần bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với tội “Cố ý gây thương tích”;
Phạt; Bị cáo Dương Văn B - 01 (Một) năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án; phạt: Bị cáo Dương Văn B 10.000.000đ (Mười triệu đồng) về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Khi bản án có hiệu lực pháp luật buộc bị cáo phải nộp ngân sách nhà nước số tiền trên.
Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo Dương Văn B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Phú Yên; - Cơ quan THAHS A; - Chi cục THADS A; - CQCSĐT TP A; - VKSND Tp A; - TAND TP A; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Nguyên Tùng |