vanban.org

Bản án 69/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Thạch Thị G.

Về hôn nhân: Chị Thạch Thị G được quyền ly hôn với anh Lý T. Về con chung: Giao cháu Lý Gia H, sinh ngày 25/10/2013 cho chị Thạch Thị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Lý T không phải cấp dưỡng cho con. Anh Lý T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp anh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Thạch Thị G.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN ĐỀ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 07 – 11 – 2018
“V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly
hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Trần Huy Tùng;

2/ Bà Hà Ngân Kim Tới.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Trân – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kiến Thức – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 172/2018/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2018 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2018/QĐXXST–HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Thạch Thị G, sinh năm 1994 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số 169, ấp H, xã A, huyện T, tỉnh S.

Bị đơn: Anh Lý T, sinh năm 1986 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số 238, ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Thạch Thị G trình bày:

Chị G với anh Lý T kết hôn với nhau năm 2012 (đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 129 ngày 08 tháng 12 năm 2012). Sau khi kết hôn chị G và anh T về sống bên gia đình chị G tại ấp H, xã A. Thời gian đầu hai người sống hạnh phúc. Đến năm 2016, hai người phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T nhậu nhẹt, nhiều lần bỏ nhà ra đi, chị G nhiều lần khuyên ngăn nhưng không được dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Chị G đã đi làm công ty để lo cuộc sống riêng, hai người ly thân từ năm 2016 đến nay. Nay chị G xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh T.

Trong quá trình chung sống chị G và anh T có một con chung tên Lý Gia H, sinh ngày 25/10/2013 đang sống cùng chị G.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Nay chị Thạch Thị G yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh Lý T.

Về con chung: Yêu cầu được nuôi con không yêu cầu anh T cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Lý T không có lời trình bày do vắng mặt.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý số 172/TB-TLVA ngày 16 tháng 8 năm 2018, tống đạt hợp lệ cho bị đơn anh Lý T nhưng anh T không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Thị G. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ hai lần đối với anh T để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã lập biên bản về việc vắng mặt anh T, không tiến hành hòa giải được và anh T cũng không có lời khai trong hồ sơ vụ án. Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Cho chị Thạch Thị G ly hôn với anh Lý T. Về con chung: Giao con cho chị G trực tiếp nuôi, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Thạch Thị G có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay anh Lý T mặc dù đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không rõ lý do. Do đó Tòa án căn cứ vào khoản 1 Điều 228 và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với chị G và anh T.

Về nội dung: Chị Thạch Thị G giữ nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Toà án cho ly hôn với anh Lý T. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Thạch Thị G với anh Lý T là hôn nhân hợp pháp (hai người có đăng ký kết hôn). Trước khi kết hôn hai người có tìm hiểu nhau trước, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2016, thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T nhậu nhẹt, không lo làm ăn, quan tâm đến vợ con dẫn đến vợ chồng không còn hạnh phúc. Hai người không còn chung sống với nhau từ năm 2016, thời gian ly thân vợ chồng không ai tới lui, chăm sóc nhau, trong giai đoạn hòa giải chị G kiên quyết yêu cầu ly hôn nên xét thấy tình trạng hôn nhân của hai người đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó chị G yêu cầu được ly hôn với anh T là có căn cứ được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Cháu Lý Gia H, sinh ngày 25/10/2013 đang sống cùng chị G. Về nguyên tắc việc trông nom, chăm sóc con chung là nghĩa vụ của cha mẹ. Theo đơn khởi kiện chị G yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con, xét thấy chị G có đủ điều kiện nuôi con và yêu cầu này là có căn cứ được quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con do chị G không yêu cầu nên anh T không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị G trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do chị G yêu cầu nên chị G phải chịu theo luật định.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Thạch Thị G.

- Về hôn nhân: Chị Thạch Thị G được quyền ly hôn với anh Lý T.

- Về con chung: Giao cháu Lý Gia H, sinh ngày 25/10/2013 cho chị Thạch Thị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Lý T không phải cấp dưỡng cho con. Anh Lý T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp anh T lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị G có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh T. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Thạch Thị G không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Thạch Thị G phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2016/0002767 ngày 16/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh S. Như vậy chị G đã nộp xong án phí.

Án sơ thẩm được xét xử công khai báo cho các đương sự biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ