- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lo Van Kh - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lò Văn Kh phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2017/HSST Ngày 20/9/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG LA, TỈNH SƠN LA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Quàng Văn Thủy.
- Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Hương và ông Lò Văn Khẹt.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: bà Lê Thị Thu Hà - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên tòa: ông Tạ Văn Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2017/HSST ngày 25 tháng 8 năm 2017, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2017/HSST-QĐ ngày 05 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo.
Họ và tên: Lò Văn Kh, sinh ngày 26/12/1962, tại Ng Ch, Mường La, Sơn La; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: bản Nà Din, xã Ngọc Chiến, huyện M L, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 5/10; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Đảng viên, đã đình chỉ sinh hoạt từ ngày 03/6/2017; Con ông Lò Văn D, (đã chết) và con bà Lò Thị M, sinh năm 1930, có vợ là Lò Thị X, sinh năm 1962 và có 02 con, con lớn sinh năm 1986, con nhỏ sinh năn 1995, hiện nay đều cư trú tại bản N D, xã Ng Ch, huyện M L, tỉnh Sơn La; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam giữ từ ngày 25 tháng 5 năm 2017 đến nay, có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo: bà Cầm Kim Loan - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Sơn La, có mặt.
Người làm chứng: Lò Văn D, sinh năm 1991, trú tại: bản M Ch 1, xã Ng Ch, huyện M L, tỉnh Sơn La, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo Lò Văn Khọt bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào hồi 10 giờ ngày 25/5/2017 Công an huyện Mường La phát hiện bắt quả tang Lò Văn Khọt đang có hành vi bán trái phép 01 gói chất bột màu trắng được gói bằng giấy nilon màu hồng cho Lò Văn Dương với số tiền 50.000đ tại nhà ở của Lò Văn Kim ( em trai của Khọt) ở cùng bản, theo Khọt và Dương khai nhận là hêrôin.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói bột màu trắng, gói bằng nilon màu hồng thu được trong túi quần bên phải Dương đang mặc trên người, theo Dương khai nhận là hêrôin mua được của Lò Văn Khọt; 50.000đ thu được của Lò Văn Khọt, theo Khọt khai nhận là tiền vừa bán hêrôin cho Dương mà có.
Ngày 25/5/2017 Công an huyện Mường La tiến hành cân tịnh gói chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn Dương có trọng lượng 0,02 gam, ký hiệu KD.
Ngày 25/5/2017 Công an huyện Mường La đã ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy đối với mẫu ký hiệu KD.
Ngày 29/5/2017 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La có bản kết luận giám định số 533/KLGĐ, xác định mẫu giám định ký hiệu KD là chất ma túy, loại chất hêrôin.
Quá trình điều tra Lò Văn Khọt khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 25/5/2017 Lò Văn Khọt đi bộ sang nhà Lò Văn Kim (là em trai của Khọt) ở cùng bản chơi, khi sang Kim đang ngủ. Khọt ngồi chơi tại bàn uống nước khoảng năm phút thì có Lò Văn Dương ở bản Mường Chiến 1, xã Ngọc Chiến đến, Dương hỏi Khọt: “ Chú có hêrôin không, cháu muốn mua về dùng, bán cho cháu 50.000đ”, sẵn có hêrôin Khọt trả lời: “ Có một ít”, Lò Văn Dương liền đưa cho Khọt 50.000đ, Khọt nhận tiền và lấy 01 gói hêrôin từ trong túi quần bên phải đang mặc trên người ra đưa cho Dương, Dương nhận lấy gói hêrôin thì bị Công an huyện Mường La phát hiện bắt quả tang.
Về nguồn gốc số hêrôin Lò Văn Khọt khai nhận sáng 25/5/2017 Khọt đi đến đoạn đường thuộc bản Pú Dảnh, xã Ngọc Chiến, huyện Mường La thì gặp 01 người phụ nữ dân tộc Mông giới thiệu là Sùng Thị Mở, trú tại bản Pú Dảnh, xã Ngọc Chiến, huyện Mường La. Khọt có hỏi và mua được 01 gói hêrôin với số tiền 150.000đ với mục đích sử dụng và ai mua thì bán kiếm lời.
Đối với Lò Văn Dương là người mua hêrôin của Lò Văn Khọt để sử dụng với số lượng ít, không đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mường La đã ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với Lò Văn Dương.
Đối với người tên Sùng Thị Mở, trú tại bản Pú Dảnh, xã Ngọc Chiến, huyện Mường La theo Lò Văn Khọt khai là người đã bán hêrôin cho Khọt, tuy nhiên cơ quan điều tra Công an huyện Mường La đã tiến hành điều tra xác minh tại bản Pú Dảnh, xã Ngọc Chiến, huyện Mường La không có ai tên là Sùng Thị Mở, do đó không có căn cứ để điều tra mở rộng vụ án.
Đối với Lò Văn Kim trú tại bản Nà Din, xã Ngọc Chiến, huyện Mường La, khi Lò Văn Khọt đến chơi và bán hêrôin cho Lò Văn Dương, Kim đang ngủ, không biết nên không có căn cứ để xử lý đối với Lò Văn Kim.
Bản cáo trạng số 510/KSĐT-MT ngày 23/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo Lò Văn Khọt về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn Khọt đủ yếu tố cấu thành tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lò Văn Khọt phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý”. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự: Xử phạt Lò Văn Khọt từ 24 đến 30 tháng tù giam; Không áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có tài sản.
Đối với vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm c, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì công văn của Công an huyện Mường La được niêm phong dán kín ( đựng vỏ phong bì cũ, giấy gói cũ); Tịch thu sung quỹ Nhà nước 50.000đ ( Năm mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Đề nghị buộc bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định chung của pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo khẳng định bị cáo bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Song đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng, pháp luật Nhà nước và một số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS. Vì bị cáo là người dân tộc sống ở vùng điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, và sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực sửa chữa lỗi lầm. Và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, vì bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định, tài sản không có giá trị lớn.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn Khọt thừa nhận: Hồi 08 giờ ngày 25/5/2017 Lò Văn Khọt đã có hành vi bán trái phép 01 gói hêrôin có trọng lượng 0,02 gam cho Lò Văn Dương lấy 50.000đ thì bị công an huyện Mường La phát hiện bắt quả tang.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, thông báo kết quả giám định, lời khai của người làm chứng.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lò Văn Khọt đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý” được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Khoản 1 Điều 194 quy định: “ Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.
Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình làm là nguy hiểm cho xã hội và bản thân, nhưng do nghiện chất ma túy và hám lời bất chính nên bị cáo đã thực hiện tội phạm. Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo là thuộc trường hợp nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội ở địa phương. Song khi lượng hình Toà cần xem xét chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho bị cáo, áp dụng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, theo điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS, vì sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo. Ngoài ra Toà cần xem xét áp dụng thêm khoản 2 Điều 46 BLHS đối với bị cáo, vì bị cáo có bố đẻ là người được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Do vậy Tòa cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho xã hội và gia đình, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa giáo dục chung.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 194 quy định “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản…”. Xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo, bị cáo nghiện chất ma túy, có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, thu nhập không ổn định, tài sản không có gì giá trị lớn, bị cáo không có khả năng thi hành, Toà cần xem xét chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho bị cáo, không áp dụng đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án gồm:
- 01 phong bì công văn của Công an huyện Mường La được niêm phong dán kín ( đựng vỏ phong bì cũ, giấy gói cũ), cần tịch thu huỷ.
- Tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam 50.000đ ( Năm mươi nghìn đồng), là của bị cáo thực hiện tội phạm mà có. Toà cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định chung của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Lò Văn Kh phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý”.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn Kh 24 (Hai mươi bốn) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam giữ ( ngày 25/5/2017).
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm c, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:
- 01 phong bì công văn của Công an huyện Mường La được niêm phong dán kín ( đựng vỏ phong bì cũ, giấy gói cũ). Tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam 50.000đ ( Năm mươi nghìn đồng). Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Bị cáo Lò Văn Kh phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 VNĐ (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo quy định chung của pháp luật.
| Nơi nhận : -Toà án tỉnh Sơn La. 1 -VKSND-Mường La. 2 -Công an-Mường La. 1 -Bị cáo. 1 -Người bào chữa. 1 -Trại giam-Sơn La. 1 -Sở Tư pháp tỉnh Sơn La. 1 -THADS-Mường La. 1 -THA.Hình sự. 2 -Lưu hồ sơ - Án văn. 2 | T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Quàng Văn Thủy |