- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Lê Thị Minh K với anh Phạm Phùng Q"
- Căn cứ chính? Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình
| ÂU THÀNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B 69/2017/HNGĐ-ST. Ng -12-2017. V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
ÂU THÀNH
-
-
Ông Ng
.
1/ Bà Lê Thị Hoàng Diễm.
2/ Bà Phạm Thị Em.
-
Hoàng Thị Tuyết -
Châu Thành
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Ngà - Kiểm sát viên.
22
12 năm 2017,
Châu Thành
,
Châu Thành
420/2017/TLST-
09
10 năm 2017
“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo q
72/2017/QĐXXST-
04
12 năm 2017
1/ Nguyên đơn: Chị Lê Thị Minh K - Sinh năm: 1985; cư trú tại: Ấp P
Q
(có mặt).
2/ Bị đơn: Anh Phạm Phùng Q - Sinh năm: 1973; cư trú tại: Ấp X
Y
(có mặt).
Tại
23
8 năm 2017, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm,
chị Lê Thị Minh K
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Q kết hôn vào năm 2009, có đăng ký kết hôn vào ngày 25/8/2009 và đã được Ủy ban nhân dân xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận kết hôn, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc hay lừa dối. Anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 10 năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn dẫn đến việc sống ly thân kể từ đó cho đến nay, nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm trong việc buôn bán, anh Q ham chơi đá gà, chị và gia đình có khuyên can nhưng anh Q không thay đổi. Kể từ khi sống ly thân cho đến nay, anh chị mạnh ai nấy sống mà không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Chị K cho rằng tình cảm vợ chồng là không còn, không thể đoàn tụ được nên yêu cầu ly hôn với anh Q, không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
nuôi con chung: Chị và anh Q có một người con chung là Phạm Như Y - Sinh ngày 31/10/2010, hiện đang sống chung với chị K. Chị K yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.
chung: Chị K không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung.
nợ chung: Chị K xác định là không có.
Tại bản tự khai ngày 19 tháng 10 năm 2017 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn là anh Phạm Phùng Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh đồng ý với lời trình bày của chị K về thời gian kết hôn, cũng như việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Anh Q cho rằng: Anh và chị K chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì giữa vợ chồng mới phát sinh mâu thuẫn mà nguyên nhân chủ yếu là do đầu năm 2016 anh về quê nuôi heo (trước đó anh và chị K lên Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống) nhưng chị K không đồng ý vì cho rằng anh về quê ăn chơi, đá gà nên giữa vợ chồng mới phát sinh cự cãi. Anh có uống rượu, đá gà nhưng không thường xuyên và chỉ chơi cho vui chứ không mang tính chất chuyên nghiệp hay để kiếm tiền sinh sống. Anh và chị K sống ly thân từ đầu năm 2017 cho đến nay. Hiện nay, anh còn thương vợ nên không đồng ý ly hôn. Nếu Tòa án giải quyết anh và chị K phải ly hôn thì anh không yêu cầu gì về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
Về nuôi con chung: Anh và chị K có một người con chung là: Phạm Như Y
- Sinh ngày 31/10/2010, người con này đang sống chung với chị K. Trường hợp Tòa án giải quyết anh và chị K phải ly hôn thì anh yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chị K cấp dưỡng nuôi con.
chung: Anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung.
nợ chung: Anh Q xác định là không có.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre phát biểu:
Người tham gia tố tụng
Châu Thành
Căn cứ vào các điều 19, 56, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình:
chị Lê Thị Minh K đối với anh Phạm Phùng Q; ghi nhận việc chị K, anh Q không yêu cầu gì về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn. con chung: Giao cho chị K
tiếp tục
giữa chị với anh Q Phạm Như Y - Sinh ngày 31/10/2010, ghi nhận việc chị K không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.
chung
chung
:
[1] Chị Lê Thị Minh K có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với anh Phạm Phùng Q có địa chỉ tại ấp X, Y, huyện C, tỉnh Bến Tre nên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre thụ lý, giải quyết là phù hợp với quy đị
ều 28, 35
39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
k
chị K với anh Q
hay
pháp luật
công nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, chị K cho rằng cuộc hôn nhân của anh chị đã không còn hạnh phúc nên yêu cầu được ly hôn nhưng anh Q không đồng ý ly hôn.
Trên cơ sở lời trình bày của các đương sự, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho thấy lời trình bày của chị K về nguyên nhân phát sinh tranh chấp cũng như về việc chị và anh Q sống ly thân là thực tế có xả
ữa chị K và anh Q đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2016, đã sống ly thân từ đầu năm 2017, từ khi sống ly thân thì mạnh ai nấy sống mà không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau trong cuộc sống, và cho đến hiện nay anh chị vẫn đang sống ly thân mà không thể đoàn tụ được từ đó cho thấy cuộc hôn nhân của anh chị
chị K đối với anh Q
Chị K, anh Q không yêu cầu gì về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn nên ghi nhận.
[3] nuôi con chung:
[3.1] Chị K, anh Q đều yêu cầu được nuôi người con chung của anh chị là Phạm Như Y - Sinh ngày 31/10/2010. Xét thấy, chị K, anh Q có khả năng nuôi con. Tuy nhiên, cháu Phạm Như Y (sinh ngày 31/10/2010) hiện đã hơn bảy tuổi, có nguyện vọng muốn được sống chung với mẹ là chị K, đồng thời hiện nay chị K cũng đang là người trực tiếp nuôi con, cũng như chăm sóc tốt cho người con này nên
chị K
[3.2] Chị Lê Thị Minh K không yêu cầu anh Phạm Phùng Q cấp dưỡng nuôi con nên anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con.
[4]
giữa vợ chồng khi ly hôn
chung chung: Chị Lê Thị Minh K, anh Phạm Phùng Q không yêu cầu gì về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly
đồng thời Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre cũng không nhận được đơn yêu cầu giải quyết về nợ có liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5]
Chị Lê Thị Minh K là
chị phải
300.000đ (ba
.
ều 56, 81, 82, 83, 84 của Luậ
đi
Tuyên:
1/ Về quan hệ hôn nhân:
1.1) Chị Lê Thị Minh K được ly hôn với anh Phạm Phùng Q.
1.2) Ghi nhận việc chị Lê Thị Minh K, anh Phạm Phùng Q không yêu cầu gì về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
2/
2.1) Chị Lê Thị Minh K được quyền tiếp tục, trực tiếp nuôi người con chung giữa chị với anh Phạm Phùng Q là Phạm Như Y - Sinh ngày 31/10/2010 (người con này hiện đang sống chung với chị K). Anh Phạm Phùng Q không phải cấp dưỡng nuôi con.
2.2) Anh Phạm Phùng Q
Phạm Phùng Q
ị Lê Thị Minh K
Q.
2.3)
chị Lê Thị Minh K, anh Phạm Phùng Q hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luậ
3/ Về
Chị Lê Thị Minh K, anh Phạm Phùng Q
đồng thời Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre cũng không nhận được đơn yêu cầu giải quyết về nợ có liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4/
Chị Lê Thị Minh K phả trăm ngàn đồng) tiề
ề
ợc trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là: 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai th
ố 0012592 ngày 03 tháng 10 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Bến Tre, chị Lê Thị Minh K đã nộp đủ án
ẩm.
5/
Chị Lê Thị Minh K, anh Phạm Phùng Q
ờ
; Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạ
ể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre giải quyết lạ
ủ tục phúc thẩm./.
T
-
;
-
- UBND xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre;
(Đã ký) -
Châu Thành;
Nguyễn Văn Nguyên -
C, tỉnh Bến Tre; -
--