- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí , lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình
| THÀNH PHỐ HÀ NỘI ------ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 689 /2021/HNGĐ-ST Ngày 12 tháng 10 năm 2021. V/v: Tranh chấp xác định không phải cha. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà N B H
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà V T M
- Ông L A T
- Thư ký phiên tòa: Bà N H N – Thư ký Toà án nhân dân quận Đống Đa,
Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa: Bà P T
T - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa,
Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 533/2020/TLST- HNGĐ ngày 07/7/2020 về việc “Tranh chấp xác định không phải cha”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 161/2021/QĐST- HNGĐ ngày 29 tháng 9 năm 2021, giữa các đương sự :
- Nguyên đơn: Chị T P H, sinh năm 1982; Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú:
Số x, phố X, phườngY, quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.
(Vắng mặt tại phiên tòa)
- Bị đơn: Anh Đ H B, sinh năm 1977; Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: số
x, tổ y, phố X, quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.
(Vắng mặt tại phiên tòa)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh L T S, sinh năm 1980; Trú
tại: Tổ 45x – phố X , Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng.
(Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các
đương sự số 716/2018/QĐST – HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội đã quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Đ H B và
chị T P H.
Về con chung: Giao cháu Đ C A, sinh ngày 06/11/2008 cho anh B nuôi
dưỡng, giao cháu Đ T A K, sinh ngày 29/6/2013 cho chị H nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Anh B, chị H có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung
không ai được ngăn cản.
Ngoài ra, quyết định còn ghi nhận các thỏa thuận khác.
Tại Quyết định tái thẩm số 05/2020/HNGĐ – TT ngày 18/02/2020 của Tòa
án nhân dân Cấp Cao tại Hà Nội đã quyết định hủy một phần Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 716/2018/QĐST – HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội về phần con chung trong vụ việc “Hôn nhân và gia đình” giữa anh Đ H B và chị T P H. Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại về phần con chung theo quy định của pháp luật.
Tháng 02/2020, chị T P H và anh L T S đã đăng ký kết hôn tại UBND
phường X, quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.
Quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự đã thống nhất xác định:
Chị T P H và anh Đ H B chỉ có 01 (một) con chung là cháu Đ C A, sinh
ngày 06/11/2008. Anh Đ H B không phải là cha đẻ của cháu Đ T A K, sinh ngày 29/6/2013. Anh L T S, sinh năm 1980 (Trú tại: sổ 45x, phố X, Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng) là cha đẻ của cháu Đ T A K (giới tính nam), sinh ngày 29/6/2013 và chị T P H là mẹ đẻ của cháu K.
Tại đơn khởi kiện đề ngày 01/7/2021 gửi Tòa án nhân dân quận Đống
Đa, Thành phố Hà Nội chị T P H tiếp tục đề nghị Tòa án xét xử lại vụ án về phần con chung và tuyên như sau: Chị T P H và anh Đ H B chỉ có 01 (một) con chung là cháu Đ C A, sinh ngày 06/11/2008. Giao cháu Đ C A, sinh ngày 06/11/2008 cho anh Đ H B là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi cháu A đối với chị H cho đến khi có sự thay đổi.
Xác định anh Đ H B không phải là cha đẻ của cháu Đ T A K, sinh ngày
29/6/2013.
Xác định anh L T S, sinh năm 1980 (Trú tại: sổ 45x, phố X, Liên Chiểu,
Thành phố Đà Nẵng) là cha đẻ của cháu Đ T A K (giới tính nam).
Xác định cháu Đ T A K (giới tính nam), sinh ngày 29/6/2013 là con đẻ
của chị T P H và anh L T S, sinh năm 1980 (Trú tại: sổ 45x, phố X, Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng).
Tháng 02/2020, chị T P H và anh L T S đã đăng ký kết hôn tại UBND
phường X, quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội nên chị H và anh S đã là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu K.
Ngày 21/9/2021, chị H đã xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc:
Xác định cháu Đ T A K (giới tính nam), sinh ngày 29/6/2013 là con đẻ của chị T P H và anh L T S, sinh năm 1980 (Trú tại: sổ 45x, phố X, Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng). Vì vấn đề này đã được xác định tại: Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 163/QĐST – HNGĐ ngày 28/10/2019 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.
Chị H chỉ yêu cầu Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội
giải quyết và tuyên buộc trong bản án những vấn đề sau đây:
“Chị T P H và anh Đ H B chỉ có 01 (một) con chung là cháu Đ C A, sinh
ngày 06/11/2008. Giao cháu Đ C A, sinh ngày 06/11/2008 cho anh Đ H B là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi cháu A đối với tôi là T P H cho đến khi có sự thay đổi.
Xác định anh Đ H B không phải là cha đẻ của cháu Đ T A K, sinh ngày
29/6/2013”.
Ngoài ra, chị H không có bất cứ yêu cầu nào khác.
* Bị đơn là anh T H B trình bày:
Anh Đ H B đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị T P H và đề nghị Tòa
án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội xét xử vụ án và tuyên trong bản án: “Chị T P H và anh Đ H B chỉ có 01 (một) con chung là cháu Đ C A, sinh ngày 06/11/2008. Giao cháu Đ C A, sinh ngày 06/11/2008 cho anh Đ H B là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi cháu A đối với tôi là T P H cho đến khi có sự thay đổi.
Xác định anh Đ H B không phải là cha đẻ của cháu Đ T A K, sinh ngày
29/6/2013”.
Ngoài ra, anh B không có bất cứ yêu cầu nào khác.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh L T S trình bày:
Anh S đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Quá trình giải
quyết vụ việc anh S là người làm đơn và giữ các giấy tờ liên quan đến Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 163/QĐST – HNGĐ ngày 28/10/2019 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.
Chị H không hiểu biết pháp luật nên tiếp tục làm đơn yêu cầu đến Tòa án
nhân dân quận Đống Đa để xác định: Xác định cháu Đ T A K (giới tính nam), sinh ngày 29/6/2013 là con đẻ của chị T P H và anh L T S, sinh năm 1980 (Trú tại: số 45x, phố X, Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng). Vấn đề này đã được giải quyết trong Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 163/QĐST – HNGĐ ngày 28/10/2019 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.
Nay anh S đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn và đề nghị Tòa án nhân
dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội xét xử vụ án và tuyên trong bản án: Chị H và anh B chỉ có 01 (một) con chung là cháu Đ C A, sinh ngày 06/11/2008. Giao cháu Đ C A, sinh ngày 06/11/2008 cho anh Đ H B là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi cháu A đối với chị H cho đến khi có sự thay đổi. Xác định anh Đ H B không phải là cha đẻ của cháu Đ T A K, sinh ngày 29/6/2013”.
Ngoài ra, anh S không có bất cứ yêu cầu nào khác.
* Kèm theo là hồ sơ vụ kiện qua các giai đoạn sơ thẩm, tái thẩm.
Tại phiên tòa:
Chị T P H, anh Đ H B có đơn xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng và
vắng mặt tại phiên tòa. Anh L T S có ý kiến trình bày trong biên bản lấy lời khai ngày 21/9/2021 xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng và vắng mặt tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên toà phát biểu
ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đúng quy định của pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin xác định không phải cha của
con của chị T P H: Xác định anh Đ H B không phải là cha đẻ của cháu Đ T A K, sinh ngày 29/6/2013”.
“Chị T P H và anh Đ H B chỉ có 01 (một) con chung là cháu Đ C A, sinh
ngày 06/11/2008. Giao cháu Đ C A, sinh ngày 06/11/2008 cho anh Đ H B là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi cháu A đối với tôi là T P H cho đến khi có sự thay đổi”.
Chị T P H không phải nộp án phí về việc xác định không phải cha của con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét
tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:
Về tố tụng: Vụ án bị Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội Hủy một phần
về phần con chung, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền.
Chị T P H, anh Đ H B có đơn xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng và
vắng mặt tại phiên tòa. Anh L T S có ý kiến trình bày trong biên bản lấy lời khai ngày 21/9/2021 xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng và vắng mặt tại phiên tòa là phù hợp với Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về các vấn đề giải quyết trong vụ án:
Tại Quyết định tái thẩm số 05/2020/HNGĐ – TT ngày 18/02/2020 của Tòa
án nhân dân Cấp Cao tại Hà Nội đã quyết định hủy một phần Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 716/2018/QĐST – HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội về phần con chung trong vụ việc “Hôn nhân và gia đình” giữa anh Đ H B và chị T P H. Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại về phần con chung theo quy định của pháp luật.
Ngày 23 tháng 9 năm 2021, chị H giao nộp: Bản chính Quyết định công
nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 163/QĐST – HNGĐ ngày 28/10/2019 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội giải quyết đã xác định cháu Đ T A K (giới tính nam), sinh ngày 29/6/2013 là con đẻ của chị T P H và anh L T S, sinh năm 1980 (Trú tại: sổ 45x, phố X, Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng).
Cháu Đ T A K đã được thay đổi họ từ Đ T A K thành tên: L T A K theo
Bản photo Trích lục thay đổi hộ tịch số 04/TLTĐHT ngày 23/12/2019 lập tại UBND phường X, quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà nội.
Nay chị H yêu cầu Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội
giải quyết:
- Xác định: anh Đ H B không phải là cha đẻ của cháu Đ T A K, sinh ngày
29/6/2013.
- Xác nhận Chị T P H và anh Đ H B chỉ có 01 (một) con chung là cháu Đ
C n, sinh ngày 06/11/2008. Giao cháu Đ C A, sinh ngày 06/11/2008 cho anh Đ H B là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi cháu A đối với chị T P H cho đến khi có sự thay đổi.
Anh S và anh B đồng ý với yêu cầu trên của chị H.
Căn cứ Điều 88, 89 Luật Hôn nhân gia đình năm 2015, Hội đồng xét xử có đủ
có cơ sở xác định:
- Xác định: anh Đ H B không phải là cha đẻ của cháu Đ T A K, sinh ngày
29/6/2013.
- Xác nhận Chị T P H và anh Đ H B chỉ có 01 (một) con chung là cháu Đ
C A, sinh ngày 06/11/2008. Giao cháu Đ C A, sinh ngày 06/11/2008 cho anh Đ H B là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi cháu A đối với chị T P H cho đến khi có sự thay đổi.
Về án phí: Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí , lệ phí Tòa án và điểm 1 khoản II mục A- Danh mục án phí lệ phí; Yêu cầu khởi kiện của chị H thuộc trường hợp không phải nộp án phí.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Từ các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: khoản 4 Điều 28, Điều 227; Điêu 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng
dân sự;
Căn cứ: Điều 88 luật Hôn nhân gia đình năm 2015;
Căn cứ: điểm b, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí , lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu xin xác định không phải cha, con của chị T P H.
- Xác định anh Đ H B không phải là cha đẻ của cháu Đ T A K, sinh ngày
29/6/2013.
- Xác nhận chị T P H và anh Đ H B có 01 (một) con chung là cháu Đ C A,
sinh ngày 06/11/2008. Giao cháu Đ C A, sinh ngày 06/11/2008 cho anh Đ H B là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi cháu Đ C A đối với chị T P H cho đến khi có sự thay đổi khác.
Chị T P H được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục cháu Đ C A không ai
được ngăn cản.
- Về án phí: Chị T P H không phải nộp án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, chị T P H, anh Đ H B, anh L T S vắng mặt tại
phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà nội - VKSND quận Đống Đa - Đương sự - lưu THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA N B H THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |