- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "HỒ THỊ H - NGUYỄN THỊ MỘNG T"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Mộng T
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 688/2026/DS-PT Ngày: 20 - 5 - 2026 Về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Hoàng Thị Thuý Lành
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng
Bà Đinh Thị Ngọc Yến
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Ngọc Nhẩn Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Giúp, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 260/2026/TLPT-DS ngày 10 tháng 4 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2026/DS-ST ngày 19 tháng 01 năm 2026 Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Tây Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 344/2026/QĐ-PT ngày 14 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị H, sinh năm 1962
Địa chỉ: Ấp S (khu dân cư), xã T, tỉnh Tây Ninh (Vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mộng T, sinh năm 1993
Địa chỉ: Ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Mộng T là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của bà Hồ Thị H, các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn bà Hồ Thị H trình bày: Vào tháng 02 năm 2024 có cho bà Nguyễn Thị Mộng T vay số tiền là 30.000.000 đồng, khi vay có làm biên nhận, lãi suất không quy định, không cầm cố, không thế chấp tài sản, thời hạn trả nợ vào tháng 02 năm 2025. Từ khi vay đến nay bà T có trả được 10.000.000 đồng tiền gốc, còn lại 20.000.000 đồng đến nay không trả. Số nợ này bà H đã nhiều lần yêu cầu bà T trả nợ nhưng bà T không trả mà kéo dài đến nay. Vì vậy, bà H khởi kiện yêu cầu bà T phải thực hiện nghĩa vụ trả cho bà số tiền gốc còn nợ là 20.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất. Ngoài ra, bà không yêu cầu gì thêm.
Sau khi nhận được đơn khởi kiện bà H Tòa án đã ra Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để hai bên tự thỏa thuận giải quyết với nhau về vụ án.
Tai biên bản hòa giải thành ngày 28/10/2025, hai bên đã thống nhất thỏa thuận với nhau về số nợ phải thu, phải trả nhưng về phương thức thanh toán không thỏa thuận được. Vì vậy Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 05/2026/DS-ST ngày 19 tháng 01 năm 2026 Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Tây Ninh quyết định:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị H đối với bà Nguyễn Thị Mộng T.
Buộc bà Nguyễn Thị Mộng T phải thực hiện nghĩa vụ trả cho bà Hồ Thị H số tiền gốc còn nợ là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi bên phải thi hành án thi hành xong khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 03/2/2026, bà Nguyễn Thị Mộng T kháng cáo yêu sửa án sơ thẩm theo hướng đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu trả dần số nợ 20.000.000 đồng, mỗi tháng 200.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, không cháp nhận kháng cáo của bị đơn.
Bị đơn Nguyễn Thị Mộng T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ. Lý do kháng cáo là do hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có việc làm, không có thu nhập nên xin trả dần.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến Tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Mộng T nộp trong thời hạn luật định, về hình thức và nội dung kháng cáo phù hợp với quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không có kháng cáo, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Về nội dung:
Xét yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Mộng T, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bà Nguyễn Thị Mộng T thừa nhận còn nợ bà Hồ Thị H số tiền 20.000.000 đồng. Tuy nhiên bà T kháng cáo xin trả dần 200.000 đồng/tháng với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có thu nhập. Xét thấy, đây không phải lý do để chậm trả tiền vay đến kỳ hạn. Bà H không đồng ý với việc xin trả dần. Việc bà T xin trả dần mỗi tháng 200.000 đồng không phù hợp với quy định của pháp luật nên không được chấp nhận.
Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng bản chất vụ án, áp dụng đúng pháp luật. Bà T kháng cáo nhưng không chứng minh được yêu cầu kháng cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Tại phiên tòa ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát về đề nghị Hội đồng xét xử, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có cơ sở chấp nhận.
Về án phí:
Án phí phúc thẩm dân sự:
Do kháng cáo của bà Nguyễn Thị Mộng T không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị Mộng T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Mộng T
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 05/2026/DS-ST ngày 19 tháng 01 năm 2026 Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Tây Ninh.
2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị Mộng T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Khấu trừ 300.000 đồng án phí bà T đã nộp theo biên lai thu số 0002870 ngày 06 tháng 02 năm 2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Bà T đã nộp đủ án phí.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao tại TP.HCM; - VKSND tối cao tại TP.HCM; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - TAND Khu vực 8 - Tây Ninh; - Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh; - Đương sự; - Phòng HCTP-TAND tỉnh TN; - Phòng GĐ, TT, KT&THA.TANDTTN; - Lưu. hồ sơ, lưu trữ, tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Thuý Lành |