vanban.org

Bản án 685/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N ly hôn ông Nguyễn Văn C. Giấy chứng nhận kết hôn số 52 Quyển số 01/2010 ngày 15/9/2010 tại Ủy ban nhân dân xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam hết hiệu lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị N yêu cầu ly hôn với Nguyễn Văn C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 685/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 13-5-2022
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Sơn Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Phước Trinh

2. Bà Phạm Thị Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đức, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh: Không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 13/5/2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 1346/2020/TLST-HNGĐ ngày 19/11/2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/4/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 167/2022/QĐST-HNGĐ ngày 25/4/2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1981 (có mặt)

Địa chỉ: Số 19 Đường 542, Tổ 11, ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1975 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 19 Đường 542, Tổ 11, ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn đề ngày 27/10/2020, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:

Bà N và ông Nguyễn Văn C có quá trình tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 52 Quyển số 01/2010 ngày 15/9/2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên gây gổ do bất đồng về quan điểm sống. Ông C có tính tình hay ghen, không tin tưởng bà N, trong lúc gây gổ ông C dùng vũ lực với bà N. Bà N đã cho ông C rất nhiều cơ hội để thay đổi nhưng ông C vẫn vậy. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà N yêu cầu ly hôn ông C.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 15/8/2002; Nguyễn Thị Hương T, sinh ngày 05/01/2013, bà N yêu cầu nuôi dưỡng hai con, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai ngày 16/11/2021, Văn bản cam kết cùng ngày 16/11/2021, bị đơn ông Nguyễn Văn C trình bày: Mâu thuẫn vợ chồng là do ông nóng nảy, ghen tuông vô cớ dẫn đến to tiếng với vợ. Ông C không muốn gia đình tan vỡ vì còn thương vợ con. Ông nhận lỗi và sẽ sửa đổi không nóng nảy, ghen tuông vô cớ để vợ phải chịu nhiều áp lực nữa.

Tòa án đã cho thời gian để hai bên tự hàn gắn, nhưng sau đó bà N vẫn cương quyết ly hôn. Về phía ông C đã nhận Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, phiên hòa giải, nhưng vắng mặt. Do đó, Toà án đưa vụ án ra xét xử để Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị N yêu cầu ly hôn đối với ông Nguyễn Văn C, đây là tranh chấp về “Ly hôn theo yêu cầu của một bên” quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, thuộc trường hợp “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông C cư trú tại xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn ông C đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không lý do, căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông C.

Quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông C có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 52 Quyển số 01/2010 ngày 15/9/2010, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Đời sống chung vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nên bà N yêu cầu ly hôn ông C.

Hội đồng xét xử xét thấy ông C thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng là do ông nóng nảy, ghen tuông vô cớ dẫn đến to tiếng với vợ. Tòa án đã tạo điều kiện cho vợ chồng tự hàn gắn, nhưng không có kết quả. Ông C đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa, nhưng vắng mặt không lý do, không có phương án khắc phục mâu thuẫn vợ chồng. Hội đồng xét xử không thể hòa giải đoàn tụ, hàn gắn mối quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông C. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Bà N và ông C có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 15/8/2002 và Nguyễn Thị Hương T, sinh ngày 05/01/2013. Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi hai trẻ, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con. Ông C vắng mặt tại phiên tòa, không thể hiện ý kiến gì. Hội đồng xét xử xét thấy, hai trẻ T và H đều có nguyện vọng được sống chung với mẹ nên để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của trẻ, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N, giao trẻ T và trẻ H cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà N xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Nghĩa vụ chung về tài sản: Bà N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà N phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 96, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 71, Điều 72, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 85, Điều 86 của Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.

- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N ly hôn ông Nguyễn Văn C.

Giấy chứng nhận kết hôn số 52 Quyển số 01/2010 ngày 15/9/2010 tại Ủy ban nhân dân xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam hết hiệu lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

- Về nuôi con chung: Giao cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Nguyễn Thị Hương T, sinh ngày 05/01/2013 và Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 15/8/2002. Ghi nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nghĩa vụ chung về tài sản: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Án phí sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà N chịu nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà N đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0085140 ngày 19/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi. Bà N đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

3. Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ